DANH NGÔN HAY

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” Ann Patchett

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

THƯ VIỆN SỐ

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GỐC THIẾU NHI - VẦNG TRĂNG CỔ TÍCH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    5.jpg 3.jpg Hinhf2.jpg Hinh_1.jpg Z7235958798236_26b870964c313187622cdd458c0240b9.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478543653_20027122dec774c20a4b09e95bcc4530.jpg Z7207478539060_da8eb27459ee046e7588ccb7354d5bc9.jpg Z7221705141593_eefbed973a3f512938b2c992badd43a1.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478543653_20027122dec774c20a4b09e95bcc4530.jpg Z7207478539060_da8eb27459ee046e7588ccb7354d5bc9.jpg 6513147497780.flv HINH_TV_GOC_LOP.jpg HINH_TV_GOC_LOP_1A.jpg HINH_TV_GOC_LOP_1.jpg Doc31.jpg Doc30.jpg Doc29.jpg

    KIẾN THỨC KỸ NĂNG TIỂU HỌC

    TRUYỆN ĐỌC TRONG SÁCH

    TỦ SÁCH LỊCH SỬ

    19/5 - Sinh nhật Bác Hồ và những sự kiện lịch sử |

    <

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    những điều cần biết về suy nhược thần kinh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
    Ngày gửi: 09h:45' 17-04-2024
    Dung lượng: 15.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    NHỮNG ĐIỀU CẦN BlẾT VỀ BỆNH

    SUY NHƯỢC
    & MẤT NGỦ

    NHẢ XUẤT BẢN LAO ĐÒN(;

    Những điểu cần biết
    vê bênh suy nhươc thần kinh
    và mât ngủ

    Dịch theo: "SUY NHƯỢC THẦN k ỉn h



    MẤT n g ủ "

    Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Giang Tây, Trung Quốc,
    năm 2004

    THÁI

    THỤ ĐÀO

    (Chủ biên)

    Những điều cần biết
    vê bênh suy nhươc thần kinh
    và mất ngủ
    Minh O anh, Khánh Ngân d ịc h
    Bs. Trần Thị Thu V ân h iê u đính

    NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
    HÀ NÔI - 2004

    LỜ I NÓI ĐẨU
    Phương p h á p chữa bệnh tự nhiên chủ yếu vận dụng
    dược p h ẩm tự nhiên, áp dụng phương p h áp tự nhiên đ ể
    chữa bệnh và có cơ th ể khoẻ mạnh. Trên thực tế, nó gần
    như chính là hệ thống y dưỢc học c ổ truyền Trung Quốc.
    Phương p h áp chữa bệnh tự nhiên cơ bản là những nhận
    thức tổng quan và biện chứng đối với th ế giới, xã hội và
    sinh lý, bệnh lý, sức khoẻ của con người, chủ trương con
    người là một bộ ph ận hỢp thành th ế giới tự nhiên và xã
    hội, sức khoẻ của con người là tổng hỢp của h ai phương
    diện tâm lý và sinh lý, điều này củng phù hỢp với định
    nghĩa m à T ổ chức Y t ế T h ế giới (WHO) công b ố vào năm
    1990. Phương p h á p chữa bệnh tự nhiên chủ trương
    thiên nhân tương ứng, thiên nhân hỢp nhất, quay về với
    tự nhiên, nhấn m ạnh sự thống nhất h ài hoà giữa con
    người và tự nhiên, xã hội. Điều này củng phù hỢp với
    quan điểm của y học hiện đ ại " sinh vật- tâm lý- xã hội".
    Bước nhảy vọt của y học hiện đại cơ bản đ ã thay đổi
    tiến trinh của sự p h á t triển y học, nhờ đó nhiều bệnh
    nhân được chữa khỏi bệnh. Nhưng theo đó cũng kéo
    theo p h ả n ứng phụ của thuốc hoá học ngày một nghiêm

    trọng. Văn minh hiện đại làm cho khoảng cách giữa con
    người và tự nhiên ngày một xa, nhiều căn bệnh văn
    minh, bệnh phú quí củng theo đó m à sinh ra. Thuốc
    nguồn gốc tông hỢp trong quá trinh chữa trị một s ố
    bệnh thường lộ rõ nhiều nhược điểm, trong khi phương
    p h áp chữa bệnh băng tự nhiên ngày càng đưỢc mọi
    người coi trọng. Tin rang cách chữa bệnh từ nay về sau
    sẽ theo xu hướng đa nguyên hoá, một m ặt con người
    thông qua thiết bị y t ế hiện đại đê nghiên cứu chữa bệnh
    và khám p h á những bí ẩn về sự sinh tồn, tiến hành các
    thí nghiệm khoa học đ ể phòng chữa bệnh trong thời ki
    đầu, mặt khác củng đặt ki vọng vào phương p h áp chữa
    bệnh tự nhiên, quay về với thiên nhiên.
    Phương p h áp chữa bệnh bằng tự nhiên bắt nguồn từ
    thời c ổ đại, dựa vào kho tàng dưỢc học đông y phong
    phú. Trong thực tế, người xưa đã tổng hỢp ra nguyên tắc
    dưỡng sinh "phươngpháp tự nhiên". Từ hàng ngàn năm
    nay, các tài liệu c ổ đã ghi chép những nhận thức về "lực
    lượng tự nhiên", lợi dụng "lực lượng tự nhiên" đ ể phòng
    và chữa bệnh, kéo dài tuổi thọ. Trong sách "Hoàng đ ế
    Nội kinh" thời Xuân Thu Chiến quốc đã đưa ra quan
    niệm trọng chỉnh thể, trọng nội nhân "thiên nhân hỢp
    nhất", "chính k h í tồn tại, tà k h í tiêu vong". Theo đó
    phương p h á p dưỡng sinh chủ trương "khởi cư hữu
    thường, ẩm thực hữu tiết, "hoà vu thuật số, p h á p vu
    dương âm" (thể dục dưỡng sinh), ánh nắng m ặt trời

    chiếu xuống, hít thở không k h í trong lành, áp dụng
    phương p h áp tắm xoa bóp, tắm phun nước. Ngày nay,
    các thuật dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe như thái cực
    quyền, ngủ cầm hí... được áp dụng rộng rãi. Những
    phương p h á p truyền thống này là sự đóng góp to lớn và
    quan trọng của dân tộc Trung Quốc, đồng thời củng là
    nội dung chính của phương p h áp chữa bệnh tự nhiên
    hiện nay. Phương p h áp chữa bệnh tự nhiên bao gồm
    thuật du-da, thảo dược của Ân Độ, thuật xoa bóp gân
    cốt của Mỹ, phương p h áp chữa bệnh túc p h ả n xạ của
    Nhật, và phương p h á p chữa bệnh bằng bùn, hương vị,
    thôi miên, màu sắc, âm nhạc, nhảy múa, từ trường v.v...
    Những phương p h á p trị liệu này cùng với phương
    p h á p trị bệnh truyền thống ngày càng được m ọi người
    coi trọng.
    Phương p h á p chữa bệnh tự nhiên ở phương Tây được
    coi là "phương p h á p chữa bệnh kiểu khác", hoặc là
    "phương p h á p chữa bệnh thay thể' và củng chính là
    phương thức bảo vệ sức khoẻ và chữa bệnh "phi chính
    thống" bằng nhiều cách nhưdùng dược p h ẩm tự nhiên,
    thức ăn b ổ dưỡng, châm cứu, k h í công, xoa bóp, ngồi
    thiền, phương p h áp trị liệu bằng hương thơm, bằng ăm
    nhạc v.v... N ăm 1998, sách "Thuật tám châu hoàn toàn
    kh oẻ mạnh" do Mĩ xuất bản chính là một phương p h áp
    chữa bệnh tự nhiên, từ đó có th ể thấy phương p h áp chữa
    bênh "phi chính thống" của người Mĩ đang mở rộng,

    cũng có nhiều viện chữa bệnh "theo kiểu khác" đang
    được mở. Những cuốn sách "chữa bệnh bằng âm nhạc"
    đang được xuất bản rầm rộ, trong đó bao gồm âm nhạc
    g iải trí, âm nhạc thái cực, âm nhạc kinh dịch ngũ hành,
    nhạc ngủ, bệnh tâm sinh lý hiện đại v.u...
    Phương pháp chữa bệnh tự nhiên có 5 phương diện.
    Một là quay về tự nhiên, ăn đồ ngũ côh tạp lương tự
    nhiên, hít thở không k h í trong lành, uống nước sạch
    không bị ô nhiễm, tận dụng rừng cây, m ặt trời, không
    khí, bùn, nước suối khoáng đ ể chữa bệnh, dùng các
    phương p h áp phòng chữa bệnh vô h ại như xoa bóp,
    dưỡng sinh. H ai là phương p h á p chữa bệnh bằng tâm
    lý, g iải tỏa những việc phiền não khiến tâm trạng con
    người không vui, khiến k h ả năng miễn dịch kém m à
    sinh bệnh. Những bệnh tỷ lệ p h á t bệnh cao, nguy hiểm
    như bệnh tim, não, huyết quản, tiêu đường, bệnh ung
    thư, nguyên nhân những bệnh này đều có liên quan với
    nhân t ố tàm lý xã hội, chính vi thế, ngoài việc dự phòng
    tâm lý ra, trong lâm sàng cũng cần p h ả i kết hỢp chữa
    bệnh bằng thuốc và tâm lý, đ ể đ ạt được hiệu quả cao.
    Trong đó, phương p h á p chữa bệnh bằng k h í công, âm
    nhạc, thư hoạ, vui chơi đều có tác dụng chữa bệnh về
    m ặt tâm lý. B a là phương p h á p chữa bệnh bằng k h í
    công. K h í công là thông qua điều hoà thăn thể, tim, h(fi
    thở. Luyện tập tinh, khí, thần của con người đ ạt đến tác
    dụng phòng bệnh chữa bệnh. K h í công nhấn m ạnh việc

    tự rèn luyện và p h ả i duy tri trong thời gian dài. Bôn là
    phương p h á p ăn uống dưỡng sinh, thông qua điều tiết
    ăn uôhg đê phòng bệnh chữa bệnh, nâng cao thê trạng.
    N ăm là các phương p h áp chữa bệnh kh ác trong y học c ổ
    truyền, chủ yếu là chữa bệnh bằng dược phẩm thuần
    thiên nhiên, châm cứu, cạo gió, diêm huyệt... theo các
    quy tắc của Đông y.
    Phương p h á p chữa bệnh tự nhiên ưà phương p h á p
    chữa bệnh Tây y có h a i điểm k h á c biệt lớn, một là
    hoàn toàn vứt bỏ thàn h p h ầ n h oá học trong dược
    p h ẩm , lợi dụng các nhăn tố, vật ch ấ t m ôi trường tự
    nhiên như rừng cây, m ặt trời, bùn, khôn g khí, nước,
    và suối, đ ể bên trong thi ăn uống thảo mộc hoa quả,
    tửu trà, bên ngoài thi dùng nhiệt năng, từ trường, đều
    lợi dụng m ôi trường và nguyên liệu tự nhiên làm
    phương p h á p trị liệu chính. H ai là bắt chước tự nhiên
    đ ể điều chỉnh kh ôi p hụ c tính tự nhiên của con người,
    tăng k h ả năng đ ề k h án g bệnh tật củ a cơ th ể như xoa
    bóp, k h í công, ăm nhạc, châm cứu, tâm lý, vui vẻ v.v...
    Phương p h á p này khôn g giốn g với phương p h á p chữa
    bệnh lấy chữa trị đối kh án g là chín h của y học hiện
    đ ại, nó kích động k h ả năng tự đ ề kh án g của cơ thể,
    điều chỉnh trạng th á i cân bằn g đ ể cơ th ể sảng khoái,
    đ ể kh ử bệnh dưỡng sinh.
    Phương p h áp chữa bệnh tự nhiên có những m ặt độc
    đáo riêng của nó về phương diện bảo vệ sức khoẻ, trạng

    thái chức năng điều tiết cơ thể. R ất nhiều bệnh trong xã
    hội hiện đại có liên quan đến môi trường. Trong một
    môi trường ô nhiễm bởi tiếng ồn, bụi bẩn, nước thải, k h í
    thải, chất lượng cuộc sông bị giảm , nếu quay về với tự
    nhiên, tắm rừng, tắm nắng, tắm suối nước nóng, thư
    giãn ngoài trời có thê khiến con người thư thái, tâm lý
    sảng khoái. Phương p h áp chữa bệnh tự nhiên củng có
    thê chữa một sô bệnh nan y như ung thư, trị viêm gan,
    khử phong hàn. Phương p h áp này thu thập tư liệu d ễ
    dàng, thao tác đơn giản, hiệu quả rõ rệt, tương đôi an
    toàn, tương đối ít tác dụng phụ và phản ứng xấu, không
    chỉ giúp đ õ bản thân tháo gỡ khó khăn m à còn có th ể
    giúp đỡ người khác. Nhiều phương p h áp có th ể thưc
    hiện ngay trong lúc ăn ở đi lại của con người, nên được
    nhiều bệnh nhăn và g ia đinh bệnh nhân hoan nghênh.
    Mặc dừ cơ c h ế tác dụng của phương ph áp chữa bệnh tự
    nhiên còn đang chờ đợi khoa học kỹ thuật hiện đ ạ i kiểm
    nghiệm, nhưng trong tương lai nó sẽ p h át triển.
    Khi ứng dụng phương p h á p chữa bệnh tự nhiên cần
    chú ý kết hỢp với phương p h á p chữa bệnh hiện đại, chứ
    không p h ả i đơn giản chỉ là quay về tự nhiên vì sự tiến
    bộ của loài người bao giờ củng là những vòng xoáy trôn
    ốc có thăng tiến. Mọi người cần hiểu rằng, Đông Tây y
    đều có những hạn chê' của nó, nhưng trong hoạt động
    thực tiễn chữa trị của chúng ta, y học hiện đ ại chiếm ưu
    thê tuyệt đối, là cách chữa trị chính. Phương p h á p chữa
    10

    bệnh tự nhiên uà y học dân tộc của các nước trên th ế giới
    ch ỉ có tác dụng chữa trị bô sung. Hệ thống lý luận y học
    hiện đ ại cũng tương đối hoàn chỉnh, đối với việc nhận
    thức bệnh lý sinh lý, hoạt động chức năng con người vô
    cùng tinh vi, y học hiện đại luôn có th ể thay đổi những
    máy móc tiên tiến và những thành quả khoa học tôi tân
    đ ể nghiên cứu cơ sở và thực tiễn trị liệu. Tuy y học hiện
    đ ại có th ể theo gương y học truyền thống quay về tự
    nhiên, tiếp thu những tinh hoa của nó, tự hoàn thiện
    minh, nhưng phương p h áp chữa bệnh tự nhiên với
    những ưu điểm như thu thập tài liệu d ễ dàng, có hiệu
    quả rõ rệt, ít đau đớn, ít có tác dụng phụ, đương nhiên
    là luôn nhận được sự hoan nghênh của mọi người. Hơn
    nữa còn không ít những người bệnh còn chưa có được
    hiệu quả bằng phương p h á p chữa bệnh hiện đại, nên
    mọi người vẫn không th ể vứt bỏ phương p h áp chữa bệnh
    tự nhiên.
    Phương p h á p chữa bệnh tự nhiên ngày càng đưỢc
    mọi người coi trọng, nhiều nơi ở Trung Quốc đã lần lượt
    thành lập các hội y học tự nhiên, đã xuât bản những
    sách có liên quan. Y học c ổ truyền Trung Quốc là
    phương p h á p chữa bệnh tự nhiên tương đối hoàn thiện
    trên th ế giới.
    Đê tiếp thu những ưu điểm của các phương p h áp
    chữa, bệnh tự nhiên trên th ế giới, chúng tôi biên soạn
    cuốn sách "Những điều cần biết vể bệnh suy nhược thần
    11
    t

    r

    kinh và mất ngủ", mong có th ể giúp các bạn dưỡng sinh
    chữa bệnh.
    Trong quá trinh biên soạn, chúng tôi đã tham khảo
    nhiều tài liệu. Cuốn sách này là sự tim tòi mới mẻ đối
    với phương p h áp chữa bệnh tự nhiên trên th ế giới, e
    rằng không tránh đưỢc những chỗ còn thiếu sót, rất
    mong nhận được sự phê binh đóng góp của các bạn.
    N hóm b iên so ạ n

    12

    CHƯƠNG ỉ

    NHỮKíG ĐIÊU CẦN BIẾT
    VỂ BỆNH THẦN KINH VÀ MẤT NGỦ

    I. THẾ NÀO LÀ SUY NHƯỢC THẦN KINH VÀ MÂT n g ủ

    Suy nhưỢc Lhần kinh là một loại bệnh tinh thần, do
    ảnh hưởng của các nhân tô" như tâm lý, sinh lý, xã hội,
    suy thoái chức năng vì hoạt động thần kinh cấp cao quá
    căng thẳng mà khiến cho tinh thần dễ hưng phấn, trí óc
    mệt mỏi, có các chướng ngại tâm lý hoặc tâm lý không
    thích ứng với cơ thể. Suy nhược thần kinh ở Trung Quốc
    rất nhiều, tỷ lệ phát bệnh là 9,1%, ở nữ giới cao hơn
    nam giới, ở người lao động trí óc cao hơn người lao động
    chân tay.
    Triệu chứng bệnh suy nhược thần kinh râ"t phức tạp,
    biểu hiện chủ yếu như tinh thần mệt mỏi, thể lực yếu,
    ngủ không tô"t, trí nhớ giảm, tâm lý không ổn định, hay
    đau đầu, ù tai, cho nên rất nhiều người tưởng lầm là
    mình bị mắc bệnh suy nhược thần kinh. Triệu chứng
    bệnh suy nhược thần kinh có đặc điểm riêng của nó,
    không giông với những triệu chứng tương tự của những
    13

    người bình thường, có những dặc trưng như chướng
    ngại tâm lý, xung đột tâm lý, cho nên bệnh suy nhược
    thần kinh đưỢc qui vào phạm trù bệnh chứng cơ quan
    chức nàng thần kinh.
    1. Thế nào là suy nhược thần kinh

    Suy nhược thần kinh là một loại bệnh mang tính
    chất cơ năng thường gặp, trong hệ thông thần kinh đại
    não không hể xảy ra thay đổi bệnh lý, mà bệnh phát
    sinh là do sự thiếu cân bằng chức năng sinh lý của hệ
    thông thần kinh trong trạng thái quá căng thẳng. Đặc
    trưng chủ yếu của bệnh này là hoạt động tinh thần dễ
    hưng phấn nhưng cũng dễ lao lực mệt mỏi, cơ thể hay
    có nhiều cảm giác khó chịu nhưng khi kiểm tra sức
    khoẻ lại không thây có bệnh tật gì.
    Việc phát hiện bệnh suy nhược thần kinh rất chậm
    chạp. Thời kì đầu có thể bị đau đầu, chóng mặt, toàn
    thân khó chịu, sau đó qui luật ngủ bị đảo lộn, ban ngày
    thì buồn ngủ mà ban đêm lại tỉnh táo, khó ngủ, nhiều
    ác mộng, không muôn ăn, toàn thân mệt mỏi, trí nhớ
    giảm sút, hiệu quả làm việc học tập giảm, tâm lý
    hoang mang.
    Suy nhược thần kinh là một loại bệnh mang tính cơ
    năng. Bệnh mang tính cơ năng là những bệnh do một sô"
    nhân tô" có hại (phần lớn là những nhân tô" tâm lý, xã
    hội) khiến cho chức năng sinh lý bộ phận cơ thể con
    người bị mất thăng bằng tạm thòi, mà thay đổi bệnh lý
    14

    này lại không tương ứng trên kết cấu tổ chức. Tuy
    người bệnh kể lại những triệu chứng rất đa dạng như
    đau đầu, mất ngủ, nhiều mộng, giảm trí nhố, nhưng khi
    kiểm tra kỹ lại không tìm ra được đủ bằng chứng.
    Bệnh suy nhược thần kinh phát bệnh nhiều ở giai
    đoạn trưởng thành, tỷ lệ phát bệnh trong độ tuổi 15-59
    là 12,59%, trong các loại bệnh cơ quan chức năng thần
    kinh chiếm 56,7%. Tuổi trẻ do dục vọng mạnh, kinh
    nghiệm sinh hoạt ít, tâm sinh lý phát triển mạnh,
    không ổn định, khả năng thích ứng với môi trường bên
    ngoài kém nên hay dẫn đến những xung đột tâm lý khó
    kìm hãm. Thêm vào đó, những người ở tuổi này đang
    trong giai đoạn từ sự quản lý của gia đình bắt đầu bưóc
    ra xã hội, phải thích nghi với một môi trường không ổn
    định, rất có thể gặp phải những kích động trên tinh
    thần và những ảnh hưởng hoàn cảnh xã hội. Nếu cá
    tính rèn luyện không được cứng rắn, bản chất vốn đã có
    những khuyết điểm hoặc nhược điểm thì càng dễ tạo ra
    những xung đột tâm lý, từ đó phát sinh ra bệnh suy
    nhược thần kinh.
    2.

    Sự nguy hại của bệnh suy nhuọc thần kinh đối

    vói sức khoẻ con người

    Đặc điểm chủ yếu của bệnh suy nhược thần kinh là
    sự mất thăng bằng chức năng của thần kinh trung ương
    cấp cao và thần kinh thực vật, cho nên không chỉ có
    những bệnh chứng rối loạn chức năng đại não như đau
    15

    đầu, chóng mặt, mất ngủ, trí nhớ giảm sút mà còn xuất
    hiện nhiều bệnh trạng mất thăng hằng chức năng như
    tiêu hoá, tuần hoàn, nội tiết và hệ thông sinh dục. Tinh
    thần người bệnh rất nặng nể, không ít ngưòi dùng
    nhiều loại thuốc bổ mà vẫn không có được phương pháp
    chữa trị hiệu quả, vì lo lắng bệnh nặng không tìm ra
    được, suy nghĩ khổ sở, tìm chữa bệnh khắp nơi mọi
    chôn, tô"n không biết bao nhiêu tiền của, thời gian. Do
    thời gian lâu nên cho rằng ma quỉ quây nhiễu, tâm lý
    căng thẳng, lo lắng, sầu não, ngủ không đủ, ăn không
    nổi, chức năng miễn dịch kém, còn có thể phát một sô"
    bệnh khác. Điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm
    trọng đến học tập, công tác, tiền đồ, mà còn tăng thêm
    gánh nặng cho gia đình, thậm chí còn ảnh hưởng đến sự
    êm ấm của gia đình. Bệnh tật, sự bất hoà trong gia đình
    sẽ lại trở thành một nhân tô" tâm lý xã hội mới, càng
    khiến người bệnh thêm nặng nề, hình thành một vòng
    tuần hoàn ác tính, ảnh hưởng ngược trở lại với người
    bệnh. Chính vì vậy, bệnh suy nhược thần kinh tuy
    không nguy hiểm đến tính mạng, không ảnh hưởng đến
    tuổi thọ, nhưng lại ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày,
    sức khoẻ thể chất và tinh thần của con người trên một
    mức độ nhất định.
    Trí nhớ là một trong những chức năng quan trọng
    của đại não, là nơi tích luỹ tri thức, là kho dự trữ thông
    tin. Trí nhớ mạnh hay yếu là vấn đề quan tâm của
    16

    nhiều người. Những người bị suy nhược thần kinh do vỏ
    đại não ở vào trạng thái hưng phấn suy yếu, dễ bị kích
    động, khả năng ức chế giảm, từ đó mà tiêu hao năng
    lượng tê bào thần kinh dự trữ. Vì thế mà người bị suy
    nhược thần kinh dễ bị kích động, dễ hưng phấn, mặt
    khác não lực, tinh lực không đủ, khó tập trung, trí nhớ
    giảm sút, hiệu quả công tác kém. Trí nhớ kém là do
    nhiều nguyên nhân, suy nhược thần kinh chỉ là một
    trong những nguyên nhân của nó, ngoài ra trí nhớ kém
    còn ảnh hưởng tối phương pháp học tập, thể trạng của
    con người. Trí nhớ có thể phân làm hai loại: trí nhớ
    ngắn và trí nhớ dài. Trí nhố ngắn là khả năng ghi nhó
    những câu nói, mẩu đối thoại, tình huông... sau vài
    phút hoặc vài giò. Nhưng trí nhớ ngắn hoặc là thông tin
    có hạn, hoặc là có thể quên sau một thời gian. Trí nhớ
    dài là bộ phận quan trọng nhất của trí nhớ, lượng thông
    tin nó lưu trữ là vô hạn và không bao giò quên. Phương
    pháp học tập không đúng đắn, trí nhớ ngắn không được
    củng cố, tri thức sẽ bị lãng quên, trí nhớ bị giảm.
    Nguyên nhân gây giảm trí nhớ của người mắc bệnh suy
    nhược thần kinh và người bị bệnh về não không giống
    nhau. Những người suy nhược thần kinh trí nhớ kém
    chủ yếu do não lực, thể lực mệt mỏi nên khó tập trung.
    Trong bô"n quá trình của trí nhớ (trí nhớ, bảo trì, tái
    hiện, xác nhận), trí nhố người suy nhược thần kinh
    giảm chủ yếu là ảnh hưởng năng lực nhó ở giai đoạn
    17

    thứ nhất. Nếu như người bệnh có thể phấn chấn tinh
    thần, hoặc sau khi chữa trị não lực, thể lực đưỢc khôi
    phục, tập trung tinh lực, tập trung hết tinh thần học
    tập thì cũng có thể nhớ rất tô't. Còn những người mắc
    bệnh về não, thòi kì đầu chủ yếu là cản trở năng lực bảo
    tồn giai đoạn hai của trí nhớ, không thể bảo tồn những
    ấn tượng tri thức thu được trong não.
    3.

    Suy nhược thần kinh và rối loạn chức năng thần

    kinh tự chủ

    ở nước ngoài, không ít người dùng từ "rối loạn
    thần kinh chức năng " để thay cho từ suy nhược thần
    kinh. Họ cho rằng bản chất của bệnh lý suy nhược
    thần kinh do chướng ngại của thần kinh chức năng,
    như chức năng hệ thống tuần hoàn, chức năng hệ
    thông tiêu hoá, hoặc sự mất cân bằng của chức năng
    tình dục. Đồng thời họ còn phát hiện suy nhược thần
    kinh có quan hệ mật thiết với yếu tô" tâm lý, đặc biệt
    đôi vối những người bị mắc bệnh rôl loạn thần kinh
    chức năng . Nếu chỉ đơn thuần là mệt mỏi mà không
    có sự tham dự của yếu tô' tâm lý sẽ không thể khiến
    con người mắc bệnh suy nhược thần kinh. Nhưng tên
    gọi này cũng chưa thể phản ánh những đặc điểm khác
    của bệnh suy nhược thần kinh như phiền não, khó
    ngủ hoặc suy nhược cơ thể, điều này vẫn chưa đưỢc
    chấp nhận phô biến.
    18

    4. Suy nhuọc thần kinh và nhũng triệu chúng mệt mỏi

    Những triệu chứng mệt mỏi là một loại hiện tượng
    tâm lý chứ không phải là một loại bệnh, đặc biệt với lao
    động chân tay, vượt qua một thòi gian và một giới hạn
    nhất định đều có thê xuất hiện những hiện tượng như
    hiệu quả công việc và học tập giảm sút, khó tập trung,
    đau đầu, chóng mặt, mất ngủ. Những triệu chứng suy
    nhưỢc thần kinh và mệt mỏi có nhiều điểm tương tự
    nhưng cũng có nhiều điểm khác nhau. Trước lúc phát
    sinh triệu chứng có liên quan với sự lao động quá mức,
    sau khi phát sinh lại có liên quan đến đặc điểm cá tính
    và nhân tô" tinh thần. Triệu chứng biểu hiện trước lúc
    phát sinh thì đơn thuần và thòi gian tương đốì ngắn,
    nhưng theo cường độ lao động nặng mà càng nặng
    thêm, sau khi nghỉ ngơi có thể dần dần hồi phục.
    Nhưng triệu chứng sau khi phát sinh nhiều và thòi gian
    tương đôi dài, theo sự thay đổi của tâm lý mà càng
    nặng, nếu chỉ đơn thuần dựa vào nghỉ ngơi thì không có
    hiệu lực, có lúc lại càng làm bệnh thêm trầm trọng, cần
    phải uô"ng thuốc và tiến hành các trị liệu tâm lý mới có
    hiệu quả.
    5. Suy nhược thần kinh và chứng tâm thẩn phân liệt

    Suy nhược thần kinh không thể phát triển thành
    bệnh tâm thần phân liệt vì suy nhược thần kinh tuy là
    một loại bệnh thần kinh nhẹ thường gặp, nhưng biểu
    hiện lâm sàng không có những triệu chứng tinh thần
    19

    trâm trọng như bệnh tâm thần phân liệt. Những người
    sau khi bị bệnh vẫn có khả năng tự nhận biê"t, khả năng
    thích ứng xã hội tương đôì tô"t và có thể chủ động tìm
    cách chữa bệnh. Nhưng một sô" người nhận thức chủ
    quan không tô"t, không thoát khỏi được.những đau đốn
    bệnh tật thì bệnh có thể phát triển thành bệnh tâm
    thần phân liệt. Trên thực tế, bệnh suy nhược thần kinh
    và bệnh tâm thần phân liệt là hai loại bệnh tính chất
    hoàn toàn không giông nhau, không thể cùng chuyển
    biến vì bệnh tâm thần phân liệt là một loại bệnh tâm
    thần loại nặng có yếu tố gia đình, nguyên nhân phát
    bệnh và cơ chế phát bệnh đều không giông với bệnh suy
    nhưỢc thần kinh. Tuy thời kì đầu của bệnh tâm thần
    phân liệt có những triệu chứng tương tự như bệnh suy
    nhược thần kinh như đau đầu, mâ"t ngủ, trí nhớ giảm
    sút... giông như suy nhược thần kinh, nhưng bản châ"t
    không giống nhau. Triệu chứng suy nhược thần kinh,
    thời kì đầu của bệnh tâm thần phân liệt người bệnh
    cũng không tự nhận thức được việc phát sinh bệnh
    trạng. Khi đi khám bệnh, người bệnh kể vê bệnh tình
    tương đôi đơn giản, giông như đang nói bệnh của người
    khác vậy, nhưng khi xem xét cẩn thận thì còn có thể
    phát hiện các bệnh tinh thần khác như tình cảm lạnh
    lùng, có những suy nghĩ, hành động, lòi nói khiến người
    khác khó dự đoán và lý giải, khả năng tự chủ kém.
    Chính vì thế, bệnh tâm thần phân liệt không phải phát
    triển từ bệnh suy nhược thần kinh.
    20

    6.
    Phát sinh bệnh suy nhược thần kinh có liên quan
    với cá tính của con người

    Đặc trưng cá tính của con người bao gồm 4 phương
    diện: tính cách, cá tính, hứng thú và năng lực. Tính
    cách quyết định toàn bộ phương hướng hoạt động tâm
    lý, khí chất phản ánh phương thức hoạt động tâm lý,
    hứng thú phản ánh khuynh hướng hoạt động tâm lý,
    năng lực phản ánh trình độ hoạt động tâm lý của con
    người. Hạt nhân chủ yếu của cá tính là tính cách, tính
    cách chỉ hành vi và thái độ của con người với hiện thực
    khách quan. Tính cách tương đối phức tạp, có liên qiian
    đến toàn bộ hoạt động tâm lý của con người. Hứng thú
    chia thành hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp.
    Hứng thú trực tiếp là hứng thú đối với bản thân sự vật,
    hứng thú gián tiếp là hứng thú đối với kết quả của
    hành động, hai loại này có thể bô sung cho nhau, tác
    động tương hỗ lẫn nhau. Cô nhân nói: "Chí có thể sinh
    thú, thú từ chí sinh ra". Hứng thú có thể nuôi dưỡng.
    Năng lực bao gồm: khả năng quan sát, trí nhớ, khả
    năng chú ý, trí tưởng tượng và khả năng khái quát
    trừu tưỢng.
    Các thầy thuốc La Mã và Hy Lạp cổ đại dùng dịch
    thê để giải thích các loại hình khí chất. Họ cho rằng
    chân thành thẳng thắn, nhiệt tình, tinh lực thịnh
    vượng, tâm lý dễ nóng nảy là đặc trưng tính nước mật.
    Hoạt bát, hiếu động, mẫn cảm, phản ứng nhanh, thích
    21

    giao thiệp với mọi người, khó tập trung và hứng thú dễ
    thay đổi là đặc trưng tính nhiều máu. Yên tĩnh, chắc
    chắn, vững vàng, phản ứng chậm, trầm mặc ít nói, tâm
    lý không dễ bộc lộ, khả năng tập trung cao và kiên nhẫn
    là đặc trưng của tính niêm dịch. Cô độc, khó tính, hành
    động chậm, thể nghiệm sâu sắc, giỏi phát hiện những
    sự vật nhỏ bé mà người khác không dễ phát hiện là đặc
    trưng của tính kìm nén. Trong bôn loại hình khí chất,
    tính nước mật (loại không thể ức chẽ) có khả năng ức
    chế kém, tính phản ứng tâm lý cao, tốc độ phản ứng
    nhanh, nhưng lại không linh hoạt. Vì thế năng lượng hệ
    thống thần kinh tổn hao nhiều. Nếu làm việc căng
    thẳng sẽ càng khiến trạng thái mất cân bằng của người
    đó, vôn chiếm ưu thế, lại càng mất cân bằng, mà quá
    trình ức chế lại càng suy yếu. Loại hình thần kinh của
    những người có khí chát kìm nén vô"n yếu, tính cảm thụ
    cao, mà tính nhẫn nại thấp, tính hưng phấn tâm lý cao,
    thể nghiệm sâu sắc, những gì họ cảm thụ đưỢc người
    khác không thể cảm thụ đưỢc, những gì người khác
    nhẫn nại đưỢc thì họ không thể nhẫn nại được, cùng có
    tâm lý mạnh và thể nghiệm sâu sắc, dễ tạo thành trạng
    thái căng thẳng trong hệ thông thần kinh.
    Nói chung những người thuộc hai loại hình tính nước
    mật và tính kìm nén so với những người thuộc loại hình
    khí chất khác dễ bị mắc bệnh suy nhược thần kinh.
    Những người thuộc loại hình khí chất khác không phải
    22

    là tuyệt đôl "miễn dịch", nếu các nhân tô" khác tác
    động mạnh dến cũng có thể mắc bệnh, rất ít điển hình
    thuần tuý một loại hình khí chất, mà chiếm phần lớn là
    loại hình hỗn hỢp lấy một đặc trưng khí chất nào đó
    làm chủ.
    7. Thế nào là mất ngủ

    Điều tra trên qui mô lớn phát hiện sô" người nói có
    thể mất ngủ chiếm 21%-32%, những người có giấc ngủ
    dài (bình quân mỗi ngày ngủ hơn 8 tiếng), ngủ ít (bình
    quân mỗi ngày ngủ ít hơn 7 tiếng), và những người ngủ
    bình thưòng( bình quân mỗi ngày ngủ 7-8 tiếng), mỗi
    loại chiếm khoảng 1/3. Kết quả điều tra cũng cho thấy
    những người ngủ ít có hiệu suất lao động cao, tinh lực
    tràn trề, tích cực tiến thủ, những người ngủ nhiều tinh
    thần sầu não, kém hăng hái. Hai loại người này không
    hề có biểu hiện khác biệt về nhân cách, cho đến nay vẫn
    chưa chứng minh đưỢc người ngủ nhiều ưu tú hơn người
    ngủ ít. Nhu cầu ngủ của mỗi người không giông nhau,
    khi con người có nhu cầu ngủ thì năng suất làm việc
    giảm, dễ có tâm tình không vui. Nhưng chỉ cần đạt được
    nhu cầu ngủ thấp nhất. Giấc ngủ kéo dài không hề
    nâng cao năng suất làm việc và cải thiện tâm trạng.
    Kinh nghiệm của nhiều người cho thấy ngủ quá nhiều
    không có lợi, càng ngủ càng lười nhác, không có tinh
    thần, thậm chí toàn thân uể oải.
    Ngẫu nhiên một lần không ngủ đưỢc chỉ là hiện
    23

    tượng bình thường, không phải bệnh lý. Chứng mâ't ngủ
    mà y học để cập là sự mất ngủ thường xuyên. Năm
    1985, Hội bệnh học tinh thần Mỹ đã đưa ra định nghĩa:
    "Những người mất ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ, mỗi
    tuần ít nhất 4 tôi, thậm chí liên tục trong 3 tuần, hiệu
    suất ngủ thấp hơn 85% (đôi với người già cần điều chỉnh
    thích ứng). Hiệu suất ngủ có nghĩa là thời gian ngủ
    trong một đêm so với thời gian nằm trên giường (mà
    không ngủ đưỢc). Ví dụ trong một đêm thòi gian nằm là
    8 tiếng, hiệu suất ngủ là 85% thì thòi gian không ngủ
    được là 72 phút. Theo thông kê, những người dưới 50
    tuổi có thòi gian thức trong một đêm dưới 28 phút, từ
    50-58 tuổi là 33,4 phút. Nếu thòi gian thức vượt quá chỉ
    sô trên thì đó là một dấu hiệu của bệnh mất ngủ.
    Thông thường, bệnh mất ngủ là trạng thái không
    vừa lòng đốì với chất và lượng của giấc ngủ liên tục
    trong một thòi gian dài, chỉ duy nhất là mất ngủ, không
    phải là do não, thân thể, tinh thần và các nhân tô" khác
    dẫn đến, do không tìm được nguyên nhân lại coi là mất
    ngủ có tính nguyên phát. Não bộ của những người bị
    bệnh mất ngủ do không được nghỉ ngơi đầy đủ nên sau
    đó họ bị chóng mặt đau đầu, não căng thẳng, trí nhớ
    giảm sút, sức lực mệt mỏi, tâm lý không ổn định, lo
    lắng, dễ kích thích, không phấn chân, khả năng hoạt
    động xã hội bị ảnh hưởng. Với những trường hỢp mất
    ngủ mà có tâm lý lo lắng sỢ hãi, trước lúc ngủ thường
    24

    cảng thẳng lo rằng đêm nay lại không ngủ được thì làm
    thê nào sẽ càng mất ngủ và mất ngủ kéo dài. Căn cứ
    theo tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại bệnh tinh thần
    của Trung Quốc, nếu mỗi tuần ít nhất 3 lần mất ngủ và
    kéo dài liên tục trong một tháng hoặc nhiều hơn lại
    không phải do một bộ phận của cơ thể như bệnh tính
    chất cơ quan não, bệnh cơ thể hoặc bệnh tinh thần thì
    có thể chẩn đoán là mất ngủ. Loại bệnh mất ngủ này
    thường tăng dần theo tuổi tác.
    Sự tôt xấu hay dài ngắn của giấc ngủ không phải
    được xác định bởi thòi gian dài ngắn nằm trên giường,
    mà mấu chốt là ở chỗ chất lượng của giâc ngủ. Phương
    thức xác định giá trị hiệu suất của giấc ngủ lưu hành
    trên thế giới là: Giá trị hiệu suất của giấc ngủ = (thời
    gian ngủ thực tế: tổng thời gian từ lúc nằm trên giường
    cho đến lúc dậy) X 100%.
    Ví dụ: 9 giờ tôì lên giường và 6 giờ sáng dậy, thì tổng
    thòi gian là 9 tiếng, mà thời gian ngủ thực tế chỉ có 6
    tiếng, như vậy hiệu suất ngủ là 67 %.Các chướng ngại
    giấc ngủ có thể phân làm 5 cấp: Chướng ngại giấc ngủ
    cấp 1: giá trị hiệu suất ngủ đạt 70%-80%; Chướng ngại
    giấc ngủ cấp 2: giá trị hiệu suất ngủ đạt 60% -70%;
    Chưống ngại giấc ngủ cấp 3: giá trị hiệu suất ngủ đạt
    50% - 60%; Chướng ngại giấc ngủ cấp 4: giá trị hiệu
    suất ngủ đạt 40% - 50%; Chướng ngại giấc ngủ cấp 5:
    giá trị hiệu suất ngủ đạt 30% - 40%. Những người đạt
    25

    giá trị hiệu suất ngủ từ 80% - 90% là những người có
    giấc ngủ bình thường hoặc ngẫu nhiên mất ngủ. Những
    người đạt trên 90% là những người có giấc ngủ tô"t. Nếu
    gía trị hiệu suất dưới 30% là những người mắc chướng
    ngại trầm trọng, cần nhanh chóng điều trị, nếu không
    sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ.
    Mất ngủ có 3 loại: Một là mất ngủ do khó ngủ, sau
    khi lên giường trằn trọc rất lâu mới có thể ngủ đưỢc,
    ngủ không sâu. Loại thứ hai là mâ't ngủ do có tính ngủ
    nông, chỉ cần có một tiếng động nhỏ cũng có thê tỉnh
    dậy. Loại thứ ba là mất ngủ có tính dậy sớm, mỗi ngày
    khi trời chưa sáng đã tỉnh giấc, cứ nằm trên giường như
    thế cho đến khi tròi Scáng, ngày hôm sau tuy ngủ rất
    muộn, nhưng vẫn dậy từ lúc tròi chưa sáng. Ngủ không
    đủ hoặc thòi gian dài ngủ không tô"t không chỉ khiến
    con người cảm thấy mệt mỏi, chóng mặt căng thẳng,
    năng suất làm việc thâ'p mà còn là biểu hiện thời kì đầu
    của bệnh. Vì vậy giữ thói quen ngủ tô"t chính là mấu
    chót để cơ thể khoẻ mạnh.
    8. Mất ngủ là kẻ thù của sức khoẻ

    Trong đời người thời gian ngủ chiếm 1/3, nếu khoảng
    thời gian này không được nghỉ ngơi tô"t thì nhất định sẽ
    ảnh hưởng đến chất lượng sinh hoạt của 2/3 kia, vì vậy
    giấc ngủ là quá trình sinh lý quan trọng mà con người
    dựa vào để tồn tại. Giấc ngủ có chức năng bảo vệ đổi với
    cơ thể, giúp não bộ nghỉ ngơi đ.ầv đủ, tiêu trừ mệt mỏi,
    26

    điều chỉnh và bảo vệ chức năng hoạt dộng và sức khoẻ
    của cơ thể, để dành năng lượng cần thiết. Nếu không
    ngủ đưỢc trong thời gian dài sẽ khiến cơ thê suy kiệt.
    Thí nghiệm trên chó cho thấy nếu chỉ cho chúng uô"ng
    mà không cho ăn, chúng có thể sống được 25 ngày.
    Nhưng nếu không cho chúng ngủ, chỉ trong 10 ngày
    chúng đã kiệt sức chết. Tiến hành thí nghiệm đôì với
    con người, nếu cưỡng bức không cho ngủ trong vòng 60
    tiếng người đó sẽ thấy mệt mỏi, toàn thân mất sức, đau
    đầu, mệt mỏi, ù tai chóng mặt, khó tập trung, trí nhớ
    giảm sút, tâm lý không ổn định, định hướng gặp chưống
    ngại. Tiếp tục không được ngủ trong 100 giờ, người đó
    có thể lầm vào trạng thái mệt mỏi nghiêm trọng, tâm lý
    mất ổn định cao độ, dễ kích động, phiền não, tinh thần
    rôl loạn, có ảo giác, hoang tưởng. Họ thấy bi quan, chán
    nản, không làm chủ đưỢc mình. Có một sô" ít người thì
    có triệu chứng tương tự như bệnh tâm thần phân liệt,
    họ không thể nhận thức được hành vi của mình, tự
    nhiên nóng nảy và tấn công người khác. Điều đó nói lên
    giấc ngủ là một trong những điều kiện cơ bản nhất để
    duy trì sinh mệnh.
    Giấc ngủ của con người chia thành hai loại: giấc ngủ
    nhãn động nhanh và giấc ngủ nhãn động không nhanh.
    Những người giấc ngủ nhãn động nhanh, khi ngủ cơ thể
    đã ngừng hoạt động nhưng đại não vẫn làm việc, nhãn
    cầu xuất hiện những chuyển động nhanh nên thường
    27

    nằm mơ. Những người giác ngủ nhãn động không
    nhanh, tức là từ ngủ nông cho đến lúc ngủ sâu, nhãn
    cầu không chuyển động nhanh. Giâc ngủ bình thường là
    vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại của hai loại trạng thái
    này, đồng thời cũng có sự cải biến hô hâ'p, nhịp tim,
    huyêt áp, sức cơ, chuyên hoá cơ sở, nội tiết và nhiều loại
    thần kinh. Một khi các chức năng này bị rôl loạn sẽ...
     
    Gửi ý kiến

    TƯ THẾ NGỒI VIẾT ĐÚNG - |KIẾN THỨC TIỂU HỌC|

    Không có gì có thể thay thế văn hóa đọc

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VIẾT XUÂN !