DANH NGÔN HAY

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” Ann Patchett

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

THƯ VIỆN SỐ

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GỐC THIẾU NHI - VẦNG TRĂNG CỔ TÍCH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    5.jpg 3.jpg Hinhf2.jpg Hinh_1.jpg Z7235958798236_26b870964c313187622cdd458c0240b9.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478543653_20027122dec774c20a4b09e95bcc4530.jpg Z7207478539060_da8eb27459ee046e7588ccb7354d5bc9.jpg Z7221705141593_eefbed973a3f512938b2c992badd43a1.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478543653_20027122dec774c20a4b09e95bcc4530.jpg Z7207478539060_da8eb27459ee046e7588ccb7354d5bc9.jpg 6513147497780.flv HINH_TV_GOC_LOP.jpg HINH_TV_GOC_LOP_1A.jpg HINH_TV_GOC_LOP_1.jpg Doc31.jpg Doc30.jpg Doc29.jpg

    KIẾN THỨC KỸ NĂNG TIỂU HỌC

    TRUYỆN ĐỌC TRONG SÁCH

    TỦ SÁCH LỊCH SỬ

    19/5 - Sinh nhật Bác Hồ và những sự kiện lịch sử |

    <

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    VIỆT NAM VĂN HÓA VÀ DU LỊCH

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
    Ngày gửi: 09h:35' 30-12-2024
    Dung lượng: 3.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    VIỆT NAM VĂN HÓA VÀ DU LỊCH
    Trần Mạnh Thường biên soạn
    Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
    Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương
    Trang và tác giả. Nghiêm cấm mọi sự sao chép, trích dịch hoặc
    in lại mà không có sự cho phép bằng văn bản của chúng tôi.

    GPXB số 317-96/XB-QLXB
    TNKHXB số: 29/XBYH
    In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Bình
    416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt Nam

    Published by arrangement between Huong Trang Cultural
    Company Ltd. and the author.
    All rights reserved. No part of this book may be reproduced
    by any means without prior written permission from the
    publisher.

    VIỆT NAM
    VĂN HÓA VÀ DU LỊCH

    TRẦN MẠNH THƯỜNG

    TRẦN MẠNH THƯỜNG biên soạn
    NGUYỄN MINH TIẾN hiệu đính

    VIỆT NAM
    VĂN HÓA VÀ DU LỊCH

    NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TẤN
    HÀ NỘI

    VIỆT NAM
    VĂN HÓA VÀ DU LỊCH

    Nhà xuất bản Thông Tấn

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Việt Nam là cửa ngõ thông ra vùng Đông Nam Á. Việt Nam
    là một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến với bao danh lam
    thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa rộng dài khắp đất nước. Cha
    ông ta đã để lại trên nước non này biết bao thành quách, đền
    đài, chùa chiền, miếu mạo..., lớp nọ nối tiếp lớp kia. Cả đất nước
    là một bảo tàng lịch sử, văn hóa của 54 dân tộc cùng chung lưng
    đấu cật xây dựng nên đất nước này.
    Việt Nam, đất nước giàu tiềm năng du lịch. Ngày nay trong
    xu thế toàn cầu hóa kinh tế, chúng ta đang từng bước hội nhập
    với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch với
    tư cách là một ngành “công nghiệp xanh” đóng vai trò hết sức
    quan trọng. Nó vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa đảm
    đương chức năng thông tin, tuyên truyền, trong mối quan hệ
    giao lưu văn hóa.
    Để góp phần quảng bá nền văn hóa và tiềm năng du lịch Việt
    Nam, Nhà xuất bản Thông Tấn cho ra mắt bạn đọc cuốn “Việt
    Nam Văn hóa và Du lịch” của soạn giả Trần Mạnh Thường. Với
    non một nghìn trang sách, từ nhiều nguồn tư liệu phong phú,
    soạn giả giới thiệu với bạn đọc một bức tranh toàn cảnh về nền
    văn hóa đa dạng và lâu đời của dân tộc Việt Nam từ địa lý, danh
    lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa đến lễ hội, phong tục, tập
    quán... của 64 tỉnh thành trên cả nước. Hy vọng cuốn sách sẽ là
    một cẩm nang quý cho bạn đọc trong và ngoài nước muốn tìm
    hiểu về văn hóa và du lịch Việt Nam.
    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

    NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TẤN
    7

    PHẦN I
    LÃNH THỔ VIỆT NAM
    I. NHỮNG CON SỐ ĐÁNG NHỚ
    _ Diện tích đất liền: 331.689 km2
    _ Lãnh hải: Rộng 12 hải lý, tính từ đường cơ sở
    sở

    _ Vùng đặc quyền kinh tế: Rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ

    _ Thềm lục địa: 700.000 km2 (kể cả hai quần đảo: Hoàng Sa
    và Trường Sa)
    _ Tọa độ đất liền: Kinh tuyến : 102008' đến 109028' Đông
    Vĩ tuyến

    : 8027' đến 23023' Bắc

    _ Dân số: trên 81 triệu người
    _ Dân tộc: 54 dân tộc, trong đó dân tộc Việt (Kinh) chiếm
    90%, 10% còn lại là dân số của 53 dân tộc.

    II. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
    Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thuộc phía Đông
    bán đảo Đông Dương, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á,
    phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía Tây giáp
    Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia,
    phía Đông, Nam và Tây Nam giáp biển Đông.
    Việt Nam vừa gắn liền với lục địa châu Á, vừa nối liền với
    biển Đông, con đường đi ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
    Việt Nam lại ở ngã tư đường hàng không và hàng hải quốc tế từ
    Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, nối liền châu Á với châu
    Đại Dương, Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương.
    Trong tương lai không xa sẽ có tuyến đường sắt, đường bộ
    xuyên Á nối liền với các nước chung quanh.
    8

    ĐỊA HÌNH

    Dải đất Việt Nam có dạng cong hình chữ S, rộng hai đầu, giữa
    thót lại, từ điểm cực Bắc ở vĩ độ 23023' Bắc tại xã Lũng Cú, trên
    cao nguyên Đồng Văn, huyện Đồng Văn, Hà Giang, đến điểm
    cực Nam trên đất liền ở vĩ độ 8027' Bắc tại xóm Mũi, xã Rạch
    Tàu, huyện Ngọc Hiển (Năm Căn) Cà Mau, kéo dài 15 vĩ tuyến.
    Chiều ngang phần đất liền từ điểm cực Tây ở kinh độ 102008'
    Đông nằm trên đỉnh núi ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam
    - Lào - Trung Quốc, thuộc xã A Pa Chải, huyện Mường Tè, Lai
    Châu, đến điểm cực Đông trên đất liền ở kinh độ 109028' Đông
    tại mũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh, Khánh
    Hòa, nằm trọn trong múi giờ thứ 7 GMT.
    Khoảng cách chiều ngang từ biên giới phía Đông (không kể
    thềm lục địa) nơi rộng nhất ở Bắc bộ là 600 km, Nam Bộ là 400
    km, nơi hẹp nhất ở Quảng Bình 50 km.

    III. ĐỊA HÌNH
    Sự khác nhau về địa hình giữa các khu vực thể hiện ở cấu
    trúc địa hình và các dạng địa hình chủ yếu:

    1. RỪNG NÚI
    Núi
    Các hệ núi chính: Sự hình thành và phát triển lãnh thổ lâu
    dài và phức tạp đã tạo cho Việt Nam một hoàn cảnh tự nhiên
    khá độc đáo. Ba phần tư diện tích đất liền là đồi núi, nhưng là
    đồi núi thấp, trừ một vài vùng đồng bằng, châu thổ rộng lớn, đâu
    đâu cũng nhìn thấy cảnh núi rừng trùng điệp. Đặc biệt dọc miền
    Trung, rừng núi và đồng bằng xen kẽ nhau.
    Độ cao địa hình dưới 1.000 m (so với mực nước biển) chiếm
    85%. Núi cao trên 2000 m chỉ chiếm khoảng 1%. Trong số những
    đỉnh núi cao của Việt Nam có đỉnh Phanxipăng thuộc dãy Hoàng
    Liên Sơn (Lào Cai) cao nhất là 3.143 m.
    Việt Nam có 4 vùng núi chính, mỗi vùng mang đặc điểm riêng:
    9

    LÃNH THỔ VIỆT NAM

    Vùng núi Đông Bắc: kéo dài từ thung lũng sông Hồng ra đến
    vịnh Bắc Bộ, trong đó có nhiều danh lam thắng cảnh, những
    hang động kỳ thú như động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn),
    hang Pắc Bó, Ngườm Ngao, thác Bản Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể
    (Bắc Kạn), núi Yên Tử, Vịnh Hạ Long với những hang động nổi
    tiếng: động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, hang Trinh Nữ... (Quảng
    Ninh). Vùng núi Đông Bắc có đỉnh Tây Côn Lĩnh cao nhất là
    2.431 m.
    Vùng núi Tây Bắc: từ biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc tới
    miền Tây của dải đất miền Trung. Đây là vùng núi cao hùng vĩ
    nhất nước, có Sa Pa (Lào Cai) ở độ cao 1.500 m so với mặt nước
    biển quanh năm mát mẻ, có Điện Biên Phủ di tích lịch sử “chấn
    động địa cầu”, có đỉnh Phăngxipăng cao 3.143 m, nơi sinh sống
    của các dân tộc anh em Thái, Mường, Dao.
    Vùng núi Trường Sơn Bắc: là hệ núi gồm các dãy núi song
    song và so le chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, kéo dài từ
    miền Tây Thanh Hóa đến tận cùng là dãy Bạch Mã đâm ra biển
    ở vĩ tuyến 160 Bắc. Khác với địa hình núi Tây Bắc, thấp dần
    về phía Đông Nam, địa hình Trường Sơn dựng cao, tạo nên hai
    sườn không đối xứng, sườn Đông đổ dốc xuống đồng bằng ven
    biển. Trong vùng núi Trường Sơn Bắc có nhiều cảnh quan kỳ thú
    như động Phong Nha - Kẻ Bàng, di sản tự nhiên thế giới, có đèo
    Ngang mỹ lệ, có đèo Hải Vân hùng vĩ... Đặc biệt đây là đoạn đầu
    của đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng trong cuộc kháng chiến
    chống Mỹ cứu nước.
    Vùng núi Trường Sơn Nam: nằm ở phía Tây các tỉnh Nam
    Trung Bộ. Sau những dãy núi đồ sộ là một vùng Tây Nguyên
    rộng lớn. Trường Sơn Nam là một khối núi và cao nguyên. Địa
    hình núi đổ dồn về phía Đông, tạo nên bờ biển chênh vênh, sườn
    dốc đứng. Phía Tây là cao nguyên đất bazan, địa hình tương đối
    bằng phẳng có độ cao từ 500 - 1000m. Đây là vùng đất còn chứa
    đựng bao điều bí ẩn về cuộc sống của các dân tộc ít người Ba Na,
    Xơ Đăng, Mơ Nông, Ê Đê, Vân Kiều, Cơ Ho... và còn có bao động
    10

    ĐỊA HÌNH

    thực vật quý hiếm đến nay chưa biết hết được. Tại đây còn có Đà
    Lạt, thành phố trên cao nguyên, được xây dựng cách nay tròn
    110 năm, một nơi nghỉ mát, an dưỡng, du lịch lý tưởng.

    Rừng
    Rừng và đất rừng Việt Nam chiếm khoảng 50% diện tích là
    nơi hội tụ nhiều loài thực vật, động vật của vùng Đông Nam Á
    và thế giới, trong đó có nhiều loài động vật quý hiếm đã được ghi
    vào sách đỏ và có nhiều loại gỗ quý như lát hoa, đinh, lim, sến,
    táu, pơmu... Ngoài gỗ, rừng Việt Nam có nhiều đặc sản có giá trị
    xuất khẩu: cánh kiến đỏ, nhựa thông, hồi, trẩu, quế...
    Rừng Việt Nam có nhiều khu rừng quốc gia được bảo vệ
    nghiêm ngặt, nơi đây còn là những khu du lịch sinh thái bền
    vững như: vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), rừng Ba Vì
    (Hà Tây), rừng Cát Bà (Hải Phòng), rừng Pù Mát, Vũ Quang (Hà
    Tĩnh), rừng Cát Tiên (Đồng Nai), rừng Côn Đảo, rừng ngập mặn
    Bạc Liêu, Cà Mau...
    Dưới lòng đất rừng có nhiều khoáng sản quí như thiếc,
    kẽm, bô xít, bạc, vàng, ăngtimoan, đá quý, than đá, dầu mỏ,
    khí đốt... Đặc biệt nguồn nước khoáng rất phong phú, hầu như
    nơi nào cũng có, như suối khoáng Quang Hanh (Quảng Ninh),
    nước khoáng Kim Bôi (Hòa Bình), nước khoáng Bang (Quảng
    Bình), nước khoáng Thạch Bích (Quảng Ngãi), suối khoáng Hội
    Vân (Bình Định), Vĩnh Hảo (Bình Thuận), Dục Mỹ (Nha Trang,
    Khánh Hòa)...

    2. ĐỒNG BẰNG
    Nước ta có hai đồng bằng lớn: đồng bằng châu thổ sông Hồng
    và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long.
    Đồng bằng châu thổ sông Hồng (còn gọi là đồng bằng Bắc Bộ),
    rộng khoảng 15.000 km2, được hai con sông Hồng và sông Thái
    Bình bồi đắp phù sa. Đây là cái nôi, địa bàn cư trú của người Việt
    từ thuở dựng nước. Nền văn minh lúa nước được tạo ra từ vùng
    đồng bằng này.
    11

    LÃNH THỔ VIỆT NAM

    Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long (còn gọi đồng bằng Nam
    Bộ) rộng khoảng 36.000 km2, hơn gấp đôi đồng bằng sông Hồng.
    Đây là vùng đất phì nhiêu, điều kiện khí hậu thuận lợi, là vựa
    lúa lớn nhất nước, hằng năm xuất khẩu gạo nhiều nhất của Việt
    Nam.
    Đồng bằng ven biển miền Trung hẹp chiều ngang, bị chia cắt
    thành nhiều cánh đồng nhỏ. Đồng bằng miền Trung chia làm 3
    dải: sát biển là cồn cát, đầm phá, giữa là vùng thấp trũng, dải
    trong cùng được bồi tụ thành đồng bằng. Trong sự hình thành
    đồng bằng ở đây, biển đóng vai trò quan trọng, nên đất chua
    mặn, lại gặp khí hậu khắc nghiệt lụt lội, hạn hán triền miên nên
    năng suất lúa không cao.

    3. TRUNG DU
    Nằm chuyển tiếp giữa đồng bằng, và miền núi là các đồi bằng
    có độ cao dưới 300 m, độ cắt xẻ giữa các quả đồi trung bình 50
    - 60 m, tối đa là 100 m. Càng gần đồng bằng đồi càng thấp, thu
    nhỏ, thung lũng mở rộng. Dải đồi trung du rộng nhất nằm ở rìa
    đồng bằng Bắc Bộ và thu hẹp ở rìa đồng bằng duyên hải miền
    Trung.

    4. SÔNG NGÒI
    Trên lãnh thổ Việt Nam có hàng nghìn con sông lớn nhỏ. Dọc
    bờ biển cứ khoảng 20 km lại có một cửa sông, do đó hệ thống
    giao thông thủy khá thuận lợi. Hai hệ thống sông quan trọng là
    hệ thống sông Hồng (miền Bắc) dài 500 km với nhiều phụ lưu,
    và hệ thống sông Cửu Long (miền Nam) dài 220 km, chia thành
    2 nhóm sông: Tiền Giang và Hậu Giang đổ ra biển Đông qua 9
    cửa sông.
    Hầu hết các con sông Việt Nam chủ yếu chảy theo hướng Tây
    Bắc - Đông Nam. Tuy vậy vẫn có một số sông chảy theo hướng
    vòng cung, uốn dòng theo các cánh cung của núi, như sông Cầu,
    sông Thương, sông Lục Nam...
    12

    ĐỊA HÌNH

    Sông ngòi Việt Nam có tổng lượng chảy dồi dào nhưng không
    đồng đều trong năm, giữa mùa mưa và mùa khô. Lượng nước
    trong mùa mưa chiếm 70-80% lượng nước cả năm. Hệ thống sông
    Hồng hằng năm đổ ra biển khoảng 122 tỷ m3 nước. Tổng lượng
    nước đổ ra biển hằng năm của hệ thống sông Cửu Long khoảng
    1.400 tỷ m3. Sông ngòi nước ta mang nhiều phù sa. Trong đó các
    con sông miền Bắc có lượng phù sa trong nước cao hơn các con
    sông miền Nam. Đặc biệt là sông Hồng có lượng phù sa lớn nhất
    (trung bình khoảng 1000 gr/m3). Vào mùa lũ, lượng phù sa có
    thể lên tới 10.000 gr/m3 nước.

    5. BIỂN VÀ BỜ BIỂN
    Bờ biển
    Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, cả ba phía Đông, Nam và
    Tây Nam đều hướng ra biển Đông (một bộ phận của Thái Bình
    Dương). Biển Việt Nam có diện tích rộng gấp nhiều lần so với
    diện tích đất liền.
    Bờ biển Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp như: Trà Cổ, Đồ
    Sơn, Đồng Châu, Sầm Sơn, Cửa Lò, Lý Hòa, Cửa Tùng, Thuận
    An, Non Nước, Mỹ Khê, Văn Phong, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà
    Tiên... Có nơi núi ăn lan ra biển tạo thành vẻ đẹp kỳ thú, như
    vịnh Hạ Long đã được UNESCO ghi vào danh sách Di sản tự
    nhiên của thế giới.
    Do điều kiện tự nhiên độc đáo, bờ biển Việt Nam có nhiều
    hải cảng quan trọng như: Cửa Ông, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy
    Nhơn, Cam Ranh, Sài Gòn, Vũng Tàu...

    Vùng biển
    Biển Việt Nam là vùng biển nóng quanh năm, nhiệt độ nước
    trên mặt bao giờ cũng cao hơn nhiệt độ không khí. Nhiệt độ nước
    mùa hè ở biển Bắc là 250C, mùa đông là 210C, ở miền Trung mùa
    13

    LÃNH THỔ VIỆT NAM

    hè là 280C mùa đông là 250C, ở miền Nam là 290 C và 270C. Độ
    mặn trung bình nước biển Đông là 340 C, về mùa mưa độ mặn
    giảm xuống còn 320C, đến mùa khô tăng lên 350 C.
    Trong vùng bờ biển Việt Nam có hai dòng hải lưu lớn: một
    hải lưu hướng Đông Bắc - Tây Nam, phát triển mạnh vào mùa
    đông, và một hải lưu hướng Tây Nam - Đông Bắc, hoạt động
    trong mùa hè. Cả hai dòng hải lưu đó hợp thành một vòng tròn
    thống nhất.
    Biển Việt Nam có chế độ thủy triều khá phức tạp. Những
    vùng từ bờ biển Móng Cái - Quảng Bình, Đà Nẵng - mũi Kê Gà
    (Bình Thuận), mũi Cà Mau - Hà Tiên, đều có chế độ nhật triều.
    Các đoạn bờ biển còn lại có chế độ bán nhật triều.

    Đảo
    Biển Việt Nam còn có vùng thềm lục địa rộng lớn với khoảng
    4.000 đảo lớn nhỏ. Chỉ riêng vịnh Bắc Bộ đã chiếm phần lớn số
    đảo và tập trung chủ yếu ở vịnh Hạ Long, Bái Tử Long. Các đảo
    lớn là Cát Bà, Cát Hải, Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Cồn Cỏ,
    Cù Lao Chàm, Hòn Tre, Phú Quý, Phú Quốc, Thổ Chu, Côn Sơn...
    Giữa vùng biển Việt Nam còn có hai quần đảo Hoàng Sa và
    Trường Sa. Quần đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, gồm
    hơn 30 đảo đá, cồn cát san hô, bãi đá ngầm rải rác trên một vùng
    biển rộng khoảng 15.000 km2.
    Cách Hoàng Sa khoảng 240 hải lý1 về phía Nam là quần
    đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa, gồm 100 đảo nhỏ, bãi đá
    ngầm, bãi san hô, nằm rải rác trên một vùng biển rộng khoảng
    18.000 km2.
    Cách Vũng Tàu 98 hải lý là Côn Đảo gồm 14 hòn đảo lớn nhỏ.
    Dưới thời thống trị của thực dân Pháp và Mỹ ngụy, Côn Đảo là
    địa ngục trần gian, nơi bọn thực dân đế quốc giam cầm, tra tấn,
    giết chóc dã man nhiều chiến sĩ cộng sản và người dân Việt Nam
    yêu nước.
    1

    14

    Một hải lý tương đương tương 1.852 mét

    KHÍ HẬU

    IV. KHÍ HẬU
    Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại ở
    nửa cầu Bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo. Vị trí đó
    tạo cho Việt Nam có một nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình cả
    năm là từ 220C đến 270C. Hằng năm có khoảng 100 ngày mưa,
    lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm. Độ ẩm không khí
    khá cao, khoảng 80%. Trên diện tích Việt Nam, mỗi năm được
    nhận chừng 600 tỷ tấn nước mưa, tương đương khoảng 20.000
    tấn trên một hécta, tập trung phần lớn vào mùa mưa.
    Một số nơi gần chí tuyến hoặc vùng núi cao (như Sa Pa, Đà
    Lạt...), khí hậu có tính chất ôn đới. Việt Nam có nắng suốt 4 mùa.
    Số giờ nắng khoảng từ 1.500 - 2.000 giờ. Bức xạ nhiệt trung bình
    năm 100 Kcal/cm2. Mùa hè số giờ nắng khoảng 200 giờ/tháng,
    mùa đông khoảng 70 giờ/tháng.
    Khí hậu Việt Nam với lượng ẩm lớn cùng nhiệt độ cao, đó
    chính là điều kiện thuận lợi cho cây cối sinh trưởng, đâm hoa
    kết trái.
    Chế độ gió mùa đã làm cho tính chất nhiệt đới ẩm của thiên
    nhiên Việt Nam thay đổi. Khí hậu Việt Nam có hai mùa rõ rệt,
    mùa khô rét (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và mùa mưa
    nóng (từ tháng 5 đến tháng 10). Nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ
    rệt, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc, nhiệt độ chênh nhau giữa các
    mùa là 120C. Các tỉnh phía Nam sự chênh lệch nhiệt độ giữa các
    mùa chỉ vào khoảng 30C.
    Nhìn chung, khí hậu Việt Nam vẫn có sự thay đổi 4 mùa:
    xuân, hạ, thu, đông, đặc biệt ở các tỉnh miền Bắc.
    Việt Nam chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc nên
    nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các nước khác ở châu Á cùng
    vĩ độ, mùa đông lạnh hơn và mùa hạ cũng ít nóng hơn.
    15

    LÃNH THỔ VIỆT NAM

    Với sự phức tạp của địa hình, lại do ảnh hưởng gió mùa, nên
    khí hậu Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm, giữa năm này
    với năm khác và giữa nơi này với nơi khác (từ Bắc vô Nam, từ
    thấp lên cao).
    Khí hậu Việt Nam cũng thường tạo ra những bất lợi về thời
    tiết như gió bão, lụt lội (mỗi năm trung bình có tới 6-10 cơn bão
    lớn nhỏ), hạn hán... thường xuyên xảy ra.

    V. TÀI NGUYÊN
    TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ ĐẤT RỪNG
    Cách nay nửa thế kỷ, nước ta còn rất giàu tài nguyên rừng.
    Rừng Việt Nam có nhiều loại gỗ quý: đinh, lim, sến, táu, cẩm
    lai, gụ, trắc, pơmu... Về thực vật bậc cao có tới 12.000 loài. Cây
    dược liệu có tới 1.500 loài, trong đó có những loại dược liệu quý,
    như cây xạ đen. Các lâm sản khác như nấm hương, mộc nhĩ, mật
    ong... Về động vật, Việt Nam có trên 1.000 loài chim, 300 loài
    thú. Ngoài những loài thú thường gặp như gấu, khỉ, hươu, nai,
    sơn dương, còn có những loài quý hiếm: tê giác một sừng, hổ, voi,
    bò rừng, sao la, công, trĩ, gà lôi đỏ... rừng Việt Nam có khoảng
    300 loài bò sát và ếch nhái và vô số loài côn trùng.
    Nhưng hiện nay, tài nguyên rừng Việt Nam bị cạn kiệt. Theo
    thống kê năm 1993, trong tổng diện tích lâm nghiệp 20 triệu
    hécta, chỉ có 9 triệu hécta đất có rừng, còn 11 triệu héc ta là đất
    trống đồi trọc. Độ che phủ rừng tính chung toàn quốc là 29%.
    Tài nguyên rừng Việt Nam chủ yếu rừng cây lá rộng (4,2 triệu
    ha) nhưng trong đó diện tích rừng giàu và rừng trung bình còn
    rất ít, diện tích rừng nghèo1 và diện tích rừng phục hồi chiếm
    gần 68%. Ngoài ra còn có hơn 900.000 ha rừng tre nứa và rừng
    hỗn giao tre nứa. Trên vùng núi cao có rừng gỗ lá kim. Ven biển
    có rừng ngập mặn (gần 10.000 ha). Rừng phòng hộ có diện tích
    2,8 triệu ha.
    16

    TÀI NGUYÊN

    Nước ta còn có một hệ thống rừng đặc dụng. Đó là các vườn
    quốc gia như: Cúc Phương, Ba Vì, Ba Bể, Vũ Quang, Bạch Mã,
    Cát Tiên...
    Rừng Việt Nam hiện không những bị cạn kiệt mà diện tích
    ngày càng bị thu hẹp, nhất là rừng nguyên sinh. Nhiều động vật,
    thực vật quý hiếm đang bị khai thác săn bắn bừa bãi nên nhiều
    loài thú quý đang đứng trước nguy cơ bị diệt chủng, các loại gỗ
    quý ngày càng hiếm.

    THỦY SẢN
    Nước ta có bờ biển dài 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng
    khoảng 1 triệu km2. Diện tích mặt nước kể cả nước ngọt, nước
    lợ, nước mặn là nguồn tài nguyên phong phú về thủy sản, trong
    đó có nhiều loài quý hiếm.
    Riêng vùng biển Việt Nam nguồn lợi thủy sản hết sức dồi
    dào. Các vùng biển ven bờ, các dòng hải lưu, các vùng nước triều
    mang theo các phù du sinh vật tới, làm thức ăn cho các loài cá
    tôm... Dọc bờ biển nước ta lại có nhiều cửa sông đổ phù sa ra
    biển, đó là những nơi tập trung nhiều tôm cá.
    Vùng biển Việt Nam có trữ lượng hải sản khoảng 3,0 - 3,5
    triệu tấn. Biển nước ta có 6.845 loài động vật, trong đó có 2.038
    loài cá. Các loài cá có giá trị kinh tế cao như: chim, thu, nụ, đé,
    ngừ, bạc má... có khoảng 100 loài. Về cá biển Việt Nam có đủ ba
    loại: cá nổi, cá tầng giữa và cá đáy, nhưng nhiều hơn cả là cá nổi
    chiếm 63% tổng sản lượng cá biển. Biển nước ta có tới 1.647 loài
    giáp xác, trong đó có khoảng 75 loài tôm, 300 loài cua, 300 loài
    trai ốc, 7 loài mực... Có những loài có giá trị xuất khẩu cao như
    tôm he, tôm hùm, tôm rồng... Nhuyễn thể có hơn 2.500 loài, rong
    biển có khoảng 653 loài. Ngoài ra còn có nhiều loại đặc sản: hải
    sâm, bào ngư, sò, điệp...
    Dọc bờ biển Việt Nam có những bãi triều, đầm phá, các rừng
    ngập mặn. Đó là những khu vực thuận lợi cho nuôi trồng thủy
    sản nước lợ.
    17

    LÃNH THỔ VIỆT NAM

    Việt Nam lại có nhiều sông, suối, kênh rạch, ao hồ, đầm,
    phá... là những nơi nuôi thả cá, tôm nước ngọt rất thuận lợi. Cả
    nước đã sử dụng 350.000 ha diện tích mặt nước để nuôi trồng
    thủy sản, trong đó Cà Mau chiếm 38% diện tích.
    Để việc đánh bắt hải sản có hiệu quả, năng suất cao, nhiều
    địa phương ngư dân đã đóng nhiều tàu thuyền lớn để đánh bắt
    xa bờ, đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Hằng năm nước ta xuất
    khẩu một khối lượng thủy sản lớn sang thị trường EU, đặc biệt
    là Mỹ.

    KHOÁNG SẢN
    a. Nhiên liệu
    Khoáng sản nhiên liệu quan trọng ở nước ta là than và dầu
    khí.
    Than có nhiều loại, và có ở nhiều nơi với trữ lượng lớn, chủ
    yếu tập trung nhiều ở vùng núi Đông Bắc, Quảng Ninh với trữ
    lượng dự báo 6 tỷ tấn, phần lớn là than gầy (antraxít) có chất
    lượng tốt. Các mỏ than khác gồm cả than gầy, than mỡ và than
    nâu, với trữ lượng trung bình chỉ từ 10-100 triệu tấn và đã được
    đưa vào khai thác như mỏ than Phấn Mễ (Thái Nguyên), Nông
    Sơn (Quảng Nam), Na Dương (Lạng Sơn). Ngoài ra ở vùng đồng
    bằng Bắc Bộ và Nam Bộ còn có mỏ than bùn với trữ lượng lớn,
    đã được các nhà địa chất phát hiện.
    Dầu khí ở nước ta có nhiều ở thềm lục địa, đặc biệt vùng thềm
    lục địa Nam Bộ có trữ lượng khá lớn, đến nay đã khai thác được
    hàng trăm triệu tấn dầu thô. Đặc biệt nhiều nơi có mỏ khí đốt.

    b. Kim loại
    _ Bôxít: mỏ bôxít có ở nhiều nơi. Riêng ở Cao Bằng - Lạng Sơn
    trữ lượng khoảng 30 triệu tấn. Ở Tây Nguyên, bôxít tập trung
    thành những mỏ lớn, tổng trữ lượng lên tới hàng tỷ tấn.
    _ Sắt: có ở Thạch Khê (Hà Tĩnh), Yên Bái, Thái Nguyên cũng
    đều có và đã đi vào khai thác.
    18

    TÀI NGUYÊN

    _ Crôm: có ở Cổ Định (Thanh Hóa) với trữ lượng 10 triệu tấn,
    đã đi vào khai thác từ lâu.
    _ Thiếc: có nhiều ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), Sơn Dương (Tuyên
    Quang), Quỳ Hợp (Nghệ An).
    _ Đồng: phát hiện được ở Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La,
    Hà Bắc, Nghệ An, Quảng Ngãi.
    Ngoài ra Việt Nam còn có nhiều mỏ kim loại quý: mangan,
    titan, chì, kẽm, vàng, bạc, thủy ngân, ăngtimoan... với trữ lượng
    ít và chưa được khai thác nhiều.

    c. Khoáng sản phi kim loại
    _ Apatit: ở Cam Đường (Lào Cai) có trữ lượng khoảng 500
    triệu tấn, chất lượng cao, đã đi vào khai thác từ lâu.
    _ Đất sét: có nhiều ở Bảo Lộc (Lâm Đồng), một số nơi ở vùng
    đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long.
    _ Đá vôi: tập trung nhiều ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, với
    trữ lượng lớn, diện tích phân bố rất thuận lợi cho việc khai thác.
    _ Đá xây dựng: như đá hoa cương, granít, cát kết có ở nhiều
    nơi trong cả nước.
    _ Đá quý: hồng ngọc, ngọc lam có ở Yên Bái, Nghệ An.
    Nhìn chung tài nguyên khoáng sản Việt Nam khá phong phú
    về chủng loại và phân bố rộng khắp cả nước. Ngoài các mỏ than,
    thiếc, apatít, vật liệu xây dựng và dầu khí đã đưa vào khai thác
    với trữ lượng tương đối lớn, các mỏ còn lại phần lớn là những mỏ
    có quy mô nhỏ, trữ lượng không nhiều.

    ĐẤT NÔNG NGHIỆP
    Các vùng đồng bằng Việt Nam bao gồm hai đồng bằng lớn:
    đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, và một số
    đồng bằng duyên hải nhỏ hẹp miền Trung.
    19

    LÃNH THỔ VIỆT NAM

    ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
    Đồng bằng sông Hồng, một châu thổ có hình tam giác cân
    với đỉnh là Việt Trì và đáy kéo dài từ Quảng Yên tới Ninh Bình,
    là sản phẩm của sông Hồng và sông Thái Bình. Khi về tới châu
    thổ, sông Hồng đã trở thành một con sông lớn dài trên 200 km
    từ Việt Trì đến biển và rộng từ 1-3 km vào mùa lũ. Dòng sông
    mang theo tổng lượng phù sa trung bình năm lên tới trên 100
    triệu tấn. Phù sa sông Hồng bồi đắp cho châu thổ màu mỡ: độ
    PH trung bình (7,0), lượng đạm mùn cao. Đó là điều kiện tốt cho
    năng suất lúa rất cao của đồng bằng sông Hồng.
    So với sông Hồng, sông Thái Bình nhỏ hơn nhiều, mặc dầu
    đó là phần hạ lưu sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam hợp
    thành. Lượng phù sa sông Thái Bình cũng ít hơn, chất lượng
    kém hơn.
    Trong số các đồng bằng Việt Nam, đồng bằng sông Hồng là
    vùng đất nông nghiệp được khai phá sớm nhất. Đây còn là cái
    nôi hình thành dân tộc Việt, là quê hương của các nền văn hóa
    nổi tiếng trải suốt tiến trình lịch sử văn minh Việt Nam.
    Về mặt kinh tế, việc trồng lúa nước đã trở thành nghề truyền
    thống với trình độ thâm canh cao nhất toàn quốc. Ngày nay,
    đồng bằng sông Hồng đang giữ vai trò chủ đạo về phương diện
    kinh tế ở các tỉnh phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung.
    Ngoài tiềm năng kinh tế nông nghiệp, tài nguyên nước ở đồng
    bằng sông Hồng dồi dào, nhờ sự có mặt của sông Hồng và mạng
    lưới sông ngòi dày đặc.
    Nhưng để phát triển mạnh nền kinh tế ở đồng bằng sông
    Hồng, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một vai trò hết sức
    quan trọng. Cho đến nay, hầu như phần lớn cư dân đồng bằng
    nói chung chủ yếu tham gia sản xuất nông nghiệp. Trong lúc đó,
    dân số không ngừng tăng lên, diện tích đất canh tác ngày một
    giảm do đô thị hóa, khả năng phát triển nền nông nghiệp truyền
    thống đang tiến gần tới giới hạn của nó.
    20

    TÀI NGUYÊN

    Vì vậy, vai trò nông nghiệp trong nền kinh tế đồng bằng phải
    có sự chuyển đổi. Trong tương lai việc sản xuất nông nghiệp sẽ
    giảm đi và nhường chỗ cho một số ngành kinh tế khác. Đồng
    bằng sông Hồng có nhiều nguồn lực để phát triển các ngành
    công nghiệp. Việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng một nền kinh
    tế công nghiệp sẽ là bước cất cánh nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng
    trưởng kinh tế. Ngoài ra, đẩy mạnh các ngành dịch vụ như du
    lịch cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng bằng sông
    Hồng. Bởi đồng bằng sông Hồng có nhiều tiềm năng về du lịch,
    một nơi có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, các di tích lịch sử, văn
    hóa, kiến trúc, một vùng có nhiều lễ hội truyền thống...

    ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
    Đồng bằng sông Cửu Long là vùng châu thổ được dòng sông
    Cửu Long, một trong những con sông dài vào bậc nhất thế giới,
    bồi đắp nên.
    Đây là một đồng bằng thấp, ngập nước, độ cao trung bình 2
    m, so với mực nước biển và được cấu tạo bởi phù sa mới, nguồn
    gốc hỗn hợp của sông và biển.
    Đồng bằng sông Cửu Long được khai thác muộn nhất, mới
    cách nay khoảng 5-6 thế kỷ. Tuy nhiên thế mạnh nổi bật của
    vùng này là các điều kiện tự nhiên. Trong một thời gian dài, phù
    sa sông đã làm cho đồng bằng trở nên màu mỡ mà không bị con
    người can thiệp. Vì thế từ xưa tới nay đồng bằng sông Cửu Long
    vẫn được mệnh danh là vựa lúa lớn nhất của cả nước. Đồng bằng
    sông Cửu Long, góp phần rất quan trọng, đưa ngành xuất khẩu
    gạo nước ta lên đứng hàng thứ hai thế giới.
    Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều ưu thế hơn về điều kiện
    tự nhiên so với đồng bằng sông Hồng, và có nhiều thuận lợi cho
    việc trồng lúa. Đồng bằng có diện tích tự nhiên khoảng 4 triệu
    ha, trong đó đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp 2,53 triệu
    ha, vào lâm nghiệp 26 vạn ha, vào các mục đích khác 28 vạn ha
    21

    LÃNH THỔ VIỆT NAM

    và số đất còn lại chưa khai thác 93 vạn ha. Được phù sa sông
    Cửu Long bồi đắp, lại không bị con người can thiệp quá sớm, đất
    trồng lúa nhiều, gấp 3 lần mức bình quân đầu người so với đồng
    bằng sông Hồng. Vì vậy, đồng bằng sông Cửu Long đã sản xuất
    ra khối lượng lương thực lớn nhất cả nước. Nơi đây còn là nguồn
    sản xuất thực phẩm quan trọng của Việt Nam. Ngoài chăn nuôi
    gia cầm: vịt, gà... gia súc: trâu, bò, lợn... đồng bằng sông Cửu
    Long còn là nguồn thủy sản vô tận: cá, tôm, cua...

    CÁC VÙNG KHÁC
    Tuy không đóng vai trò quan trọng như đồng bằng sông Hồng,
    sông Cửu Long, nhưng các đồng bằng duyên hải miền Trung có
    mối liên hệ mật thiết với vùng đồi núi phía Tây, một vùng đất có
    thế mạnh về cây công nghiệp, thực phẩm như cây điều, cao su,
    ca cao, hồ tiêu, cà phê... và với vùng biển, thềm lục địa ở phía
    Đông, một nguồn hải sản quan trọng trong nền kinh tế của miền
    Trung Việt Nam.
    Ngoài ra, nước ta còn có một vùng trung du rộng lớn, nơi đang
    phát triển mạnh các loài cây lấy dầu như sở, chẩu, quế, hồi... và
    những cánh rừng chè, cà phê... Đó là những thế mạnh mà không
    phải nước nào cũng có.

    TÀI NGUYÊN DU LỊCH
    Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng rõ rệt về
    tài nguyên. Tài nguyên du lịch được xếp vào những nhân tố có vị
    trí quan trọng hàng đầu.
    Tài nguyên du lịch gồm hai nhóm: tài nguyên tự nhiên và tài
    nguyên nhân văn.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên
    Nước ta quanh năm chan hòa ánh nắng, bốn mùa xanh tươi.
    Tài nguyên du lịch tự nhiên nước ta vô cùng phong phú đa dạng.
    Về mặt địa hình, Việt Nam có các dạng địa hình đồi núi, đồng
    22

    TÀI NGUYÊN

    bằng, cao nguyên, bờ biển... tạo nên nhiều cảnh quan đẹp. Với
    những núi cao như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), Sapa
    (Lào Cai), Bạch Mã (Thừa Thiên), Bà Nà (Đà Nẵng), Đà Lạt... có
    khí hậu rất gần với ôn đới, có nhiều hang động kỳ khu như hang
    Pắc Bó (Cao Bằng), Tam Thanh (Lạng Sơn), Thiên Cung (Hạ
    Long), Phong Nha (Quảng Bình)..., những thác ghềnh ngoạn
    mục như thác Bản Giốc (Cao Bằng), thác Pongur, Đambri (Lâm
    Đồng), với bao đầm phá mênh mông: Tam Giang, Cầu Hai (Thừa
    Thiên Huế)..., bao hồ nước thơ mộng: Ba Bể (Bắc Kạn), hồ Thủy
    điện Hòa Bình, hồ Suối Hai, Đồng Mô (Hà Tây), hồ Dầu Tiếng
    (Tây Ninh)... Lại có những vùng đất lịch sử: Điện Biện Phủ chiến
    trường xưa, Củ Chi đất thép kiên cường, có Côn Đảo, địa ngục
    trần gian dưới thời thực dân Pháp và Mỹ ngụy, có Phú Quốc,
    Trường Sa, Hoàng Sa, đất mẹ kiên trung...
    Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km với nhiều bãi tắm đẹp nổi
    tiếng: Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm
    Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Đá
    Nhảy (Quảng Bình), Cửa Tùng (Quảng Trị), Thuận An, Lăng
    Cô (Thừa Thiên Huế), Non Nước (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh
    Hòa), Ninh Chữ (Ninh Thuận), Vũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu)...

    Tài nguyên nhân văn
    Việt Nam là một đất nước có mấy ngàn năm lịch sử. Điều đó
    làm cho tài nguyên du lịch nhân văn nước ta hết sức phong phú.
    Các di tích lịch sử, văn hóa là một trong những tài nguyên hàng
    đầu của du lịch Việt Nam. Đến năm 2000 cả nước đã có 2.250
    di tích đã được Nhà nước xếp hạng trong số 4.000 di tích. Trong
    đó có 5 di tích thắng cảnh đã được Ủy ban Di sản Thế giới thuộc
    UNESCO công nhận là di sản thế giới như: Cố đô Huế, Phố Cổ
    Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn là di sản văn hóa thế giới, Vịnh Hạ
    Long, động Phong Nha... Kẻ Bàng là di sản tự nhiên thế giới. Và
    chắc một ngày không xa, nước ta sẽ còn có một số di tích thắng
    23

    LÃNH THỔ VIỆT NAM

    cảnh nữa sẽ được UNESCO ghi vào danh sách di sản thế giới.
    Đó là những điểm tham quan du lịch đầy hấp dẫn và cuốn hút
    du khách.
    Việt Nam còn có những vùng du lịch sinh thái với một hệ
    thống vườn quốc gia đa dạng sinh học như Cúc Phương, Pu Mát,
    Vũ Quang, Cát Tiên... và một miệt vườn cây trái sông nước miền
    Tây Nam Bộ. Du lịch mạo hiểm, lên thác, xuống ghềnh, leo núi...
    đang là mốt của du lịch Việt Nam trong những năm tới.
    Việt Nam, vùng đất giàu tài nguyên nước khoáng tự nhiên.
    Đến nay, chúng ta đã phát hiện hơn 400 nguồn nước khoáng,
    trong đó có nhiều nguồn nước khoáng nổi tiếng như Thạch Bích,
    Kim Bôi, Vĩnh Hảo... không chỉ là những nguồn nước uống tốt
    cho sức khỏe, mà còn là những nơi nghỉ dưỡng chữa bệnh.

    24

    PHẦN II
    LỊCH SỬ VIỆT NAM
    I. THỜI TIỀN SỬ
    Căn cứ vào di chỉ khảo cổ học tìm thấy ở núi Đọ (Thanh Hoá),
    Hang Gòn, Dầu Giây (Đồng Nai) và những chiếc răng người vượn
    tìm thấy ở trong hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), các
    nhà khảo cổ học đã khẳng định rằng cách đây hàng chục vạn
    năm trên lãnh thổ Việt Nam đã có con người sinh sống. Việt
    Nam được coi là một trong những nơi loài người xuất hiện sớm.
    Những di chỉ tìm thấy ở Sơn Vi (huyện Lâm Thao, Phú Thọ),
    mà giới khảo cổ học gọi là nền văn hoá Sơn Vi, thuộc hậu kỳ thời
    đại đá cũ, có niên đại cách nay 300.000 năm. Từ văn hoá Sơn Vi
    phát triển lên văn hoá Hòa Bình - Bắc Sơn, thuộc thời kỳ đồ đá
    mới, cách nay 5.000 năm.
    Với văn hoá Hòa Bình - Bắc Sơn, con người đã biết trồng trọt,
    đánh dấu bước chuyển từ kinh tế hái lượm, săn bắt sang kinh tế
    sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi). Các cư dân nguyên thủy sống
    chủ yếu trên các miền đồi núi, trong những hang động, nay đã
    chuyển dần xuống chinh phục các vùng châu thổ, sống định cư,
    phát triển nghề trồng lúa nước và các cây trồng khác...
     
    Gửi ý kiến

    TƯ THẾ NGỒI VIẾT ĐÚNG - |KIẾN THỨC TIỂU HỌC|

    Không có gì có thể thay thế văn hóa đọc

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VIẾT XUÂN !