DANH NGÔN HAY

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” Ann Patchett

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

THƯ VIỆN SỐ

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GỐC THIẾU NHI - VẦNG TRĂNG CỔ TÍCH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    5.jpg 3.jpg Hinhf2.jpg Hinh_1.jpg Z7235958798236_26b870964c313187622cdd458c0240b9.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478543653_20027122dec774c20a4b09e95bcc4530.jpg Z7207478539060_da8eb27459ee046e7588ccb7354d5bc9.jpg Z7221705141593_eefbed973a3f512938b2c992badd43a1.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478568475_7069a8f2ecdd1479d1fb68fc0689ba89.jpg Z7207478543653_20027122dec774c20a4b09e95bcc4530.jpg Z7207478539060_da8eb27459ee046e7588ccb7354d5bc9.jpg 6513147497780.flv HINH_TV_GOC_LOP.jpg HINH_TV_GOC_LOP_1A.jpg HINH_TV_GOC_LOP_1.jpg Doc31.jpg Doc30.jpg Doc29.jpg

    KIẾN THỨC KỸ NĂNG TIỂU HỌC

    TRUYỆN ĐỌC TRONG SÁCH

    TỦ SÁCH LỊCH SỬ

    19/5 - Sinh nhật Bác Hồ và những sự kiện lịch sử |

    <

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    10 vạn câu hỏi vì sao- vật lý

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
    Ngày gửi: 09h:02' 17-04-2024
    Dung lượng: 5.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Mười vạn câu hỏi vì sao là bộ sách phổ cập khoa học dành cho lứa tuổi
    thanh, thiếu niên. Bộ sách này dùng hình thức trả lời hàng loạt câu hỏi "Thế
    nào?", "Tại sao?" để trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu một khối lượng
    lớn các khái niệm, các phạm trù khoa học, các sự vật, hiện tượng, quá trình
    trong tự nhiên, xã hội và con người, giúp cho người đọc hiểu được các lí lẽ
    khoa học tiềm ẩn trong các hiện tượng, quá trình quen thuộc trong đời sống
    thường nhật, tưởng như ai cũng đã biết nhưng không phải người nào cũng
    giải thích được.
    Bộ sách được dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc do Nhà xuất bản
    Thiếu niên Nhi đồng, Trung Quốc xuất bản. Do tính thiết thực, tính gần gũi
    về nội dung và tính độc đáo về hình thức trình bày mà ngay khi vừa mới xuất
    bản ở Trung Quốc, bộ sách đã được bạn đọc tiếp nhận nồng nhiệt, nhất là
    thanh thiếu niên, tuổi trẻ học đường. Do tác dụng to lớn của bộ sách trong
    việc phổ cập khoa học trong giới trẻ và trong xã hội, năm 1998 Bộ sách
    Mười vạn câu hỏi vì sao đã được Nhà nước Trung Quốc trao "Giải thưởng
    Tiến bộ khoa học kĩ thuật Quốc gia", một giải thưởng cao nhất đối với thể
    loại sách phổ cập khoa học của Trung Quốc và được vinh dự chọn là một
    trong "50 cuốn sách làm cảm động Nước Cộng hoà" kể từ ngày thành lập
    nước. Mười vạn câu hỏi vì sao
    Bộ sách Mười vạn câu hỏi vì sao có 12 tập, trong đó 11 tập trình bày các
    khái niệm và các hiện tượng thuộc 11 lĩnh vực hay bộ môn tương ứng: Toán
    học, Vật lí, Hoá học, Tin học, Khoa học môi trường, Khoa học công trình,
    Trái Đất, Cơ thể người, Khoa học vũ trụ, Động vật, Thực vật; ở mỗi lĩnh
    vực các tác giả vừa chú ý cung cấp các tri thức khoa học cơ bản, vừa chú
    trọng phản ánh những thành quả và những ứng dụng mới nhất của lĩnh vực
    khoa học kĩ thuật đó; Các tập sách đều được viết với lời văn dễ hiểu, sinh
    động, hấp dẫn, hình vẽ minh hoạ chuẩn xác, tinh tế, rất phù hợp với độc giả
    trẻ tuổi và mục đích phổ cập khoa học của bộ sách.
    Do chứa đựng một khối lượng kiến thức khoa học đồ sộ, thuộc hầu hết các
    lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội, lại được trình bày với một văn phong
    dễ hiểu, sinh động, Mười vạn câu hỏi vì sao có thể coi như là bộ sách tham
    khảo bổ trợ kiến thức rất bổ ích cho giáo viên, học sinh, các bậc phụ huynh
    và đông đảo bạn đọc Việt Nam.
    Trong xã hội ngày nay con người sống không thể thiếu những tri thức tối

    thiểu về văn hóa, khoa học; Sự hiểu biết về văn hóa, khoa học của con người
    càng rộng, càng sâu thì mức sống, mức hưởng thụ văn hóa của con người
    càng cao và khả năng hợp tác, chung sống, sự bình đẳng giữa con người
    càng lớn, càng đa dạng, càng có hiệu quả thiết thực; Mặt khác khoa học
    hiện đại đang phát triển cực nhanh, tri thức khoa học mà con người cần nắm
    ngày càng nhiều, do đó, việc xuất bản tủ sách phổ biến khoa học dành cho
    tuổi trẻ học đường Việt Nam và cho toàn xã hội là điều hết sức cần thiết, cấp
    bách và có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân văn rộng lớn; Nhận thức được điều
    này, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cho xuất bản Bộ Mười vạn câu hỏi vì
    sao và tin tưởng sâu sắc rằng bộ sách này sẽ là người thầy tốt, người bạn
    chân chính của đông đảo thanh, thiếu niên Việt Nam, đặc biệt là học sinh,
    sinh viên trên con đường học tập, xác lập nhân cách, bản lĩnh để trở thành
    công dân hiện đại, mang tố chất công dân toàn cầu.
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    1. Vì sao sức nặng của vật thể có thể biến
    đổi?
    Nếu có ai nói với bạn rằng sức nặng của một vật thể không phải là cố định
    mà có thể biến đổi theo những địa điểm khác nhau, liệu bạn có tin không?
    Song sự thực lại đúng là như vậy. Đưa vật thể đến những địa điểm khác
    nhau, sức nặng của chúng quả thực có xảy ra sự biến đổi. Một sự việc như
    thế này đã từng xảy ra: một nhà buôn mua của ngư dân 5000 tấn cá trắm đen
    của Hà Lan, đưa lên tàu chở từ đó về thủ đô Môgađishu của Xômali, gần
    xích đạo. Đến nơi, dùng cân lò xo cân lại bỗng thấy thiếu hơn 30 tấn cá. Lạ
    thật, cá chạy đi đâu nhỉ? Bị mất cắp là điều không thể có, vì trên đường đi,
    tàu không hề cập bến bờ nào cả. Tiêu hao trong quá trình xếp dỡ cũng không
    thể nhiều đến thế. Mọi người xôn xao bàn tán, nhưng không ai vạch ra được
    điều bí ẩn này. Về sau, sự thật cũng được làm sáng tỏ. Cá không bị mất cắp,
    cũng không phải việc xếp dỡ gây nên hao hụt, mà do sự tự quay của Trái Đất
    và sức hút của nó. Hoá ra là sức nặng của một vật thể - tức là trọng lực tác
    động lên nó, là do sức hút của Trái Đất lên vật thể đó tạo ra. Song Trái Đất
    lại luôn luôn xoay quanh mình, tạo ra một loại lực li tâm tự quay. Vì vậy, độ
    lớn của trọng lực mà vật thể chịu tác động bằng với hợp lực của sức hút Trái
    Đất và lực li tâm quán tính của sự tự quay, đúng ra là sức hút của địa tâm trừ
    đi thành phần thẳng đứng của lực li tâm quán tính của sự tự quay. Vì Trái
    Đất có hình bầu dục bẹt ở hai đầu, càng gần xích đạo thì khoảng cách giữa
    mặt đất và địa tâm càng lớn, sức hút Trái Đất cũng lại càng nhỏ. Mặt khác,
    càng gần xích đạo, lực li tâm tác dụng lên vật thể do sự tự quay của Trái Đất
    sinh ra lại càng lớn cho nên càng gần xích đạo, trọng lực thực tế tác động lên
    vật thể càng nhỏ. 5000 tấn cá trắm đen, vận chuyển từ nước Hà Lan có vĩ độ
    trung bình đến nước Xômali gần xích đạo, trọng lực tác động tất nhiên giảm
    dần. Đó là lý do vì sao khi cân lại, cá bị hụt hơn 30 tấn. Nếu một vận động
    viên leo núi nhặt được một tiêu bản nham thạch trên đỉnh Evơret mang về
    Bắc Kinh, nó sẽ nặng hơn một chút. Còn như có nhà phi hành vũ trụ mang
    nó vào khoảng không bên ngoài phạm vi sức hút Trái Đất nó sẽ không còn
    sức nặng nữa. Song, bất kể là sức nặng của vật thể biến đổi ra sao, khối
    lượng của chúng vẫn không hề thay đổi. Điều đáng chú ý là, sự biến đổi sức
    nặng của vật thể chỉ có thể cân đo ra được bằng cân lò xo mà thôi. Dùng cân
    bàn hoặc cân đòn đều không cân đo được, vì hai dụng cụ này đo khối lượng
    của vật thể (và đơn vị tấn mà ta nói ở trên là tấn lực).
    Từ khóa : Sức nặng; Sức hút Trái Đất .

    2. Một mét dài bao nhiêu?
    Trong hộp đựng dụng cụ học tập của bạn thường có một thước thẳng bằng
    nhựa trong suốt, trên mặt thước có in từng vạch thẳng, các vạch nhỏ cách
    nhau một milimet, mười vạch nhỏ bằng một xentimet, 1000 vạch nhỏ bằng
    chiều dài một mét.
    Đơn vị theo hệ mét là đơn vị độ dài thông dụng trên thế giới. Vì sao phải
    dùng đơn vị độ dài thống nhất nhỉ? Thời cổ đại, các nước đều có đơn vị độ
    dài của riêng mình. Vả lại, đơn vị độ dài ở mỗi thời kì có khi còn biến đổi
    nữa. Đơn vị đo độ dài thay đổi nhiều sẽ gây ra không ít khó khăn cho việc
    chế tạo cơ khí chính xác.
    Sau cuộc cách mạng công nghiệp thế kỉ XVIII, sự phát triển mạnh mẽ của
    khoa học kĩ thuật buộc các nhà khoa học phải nhanh chóng tìm ra tiêu chuẩn
    độ dài thống nhất quốc tế có thể duy trì lâu dài không đổi.
    Các nhà khoa học lúc bấy giờ cho rằng kích thước của Trái Đất không
    biến đổi. Năm 1790, giới khoa học Pháp đã đo kinh tuyến của Trái Đất, đề
    xuất ý kiến lấy 1/10 triệu của đoạn kinh tuyến từ xích đạo đi qua Pari đến
    Bắc Cực làm tiêu chuẩn độ dài, gọi là một "mét". Con người căn cứ vào tiêu
    chuẩn độ dài đó chế ra một thước mét tiêu chuẩn đầu tiên bằng platin.
    Năm 1889, Hội nghị về đo lường quốc tế đã chính thức quyết định, dựa
    theo độ dài của thước mét tiêu chuẩn đầu tiên, dùng hợp kim platin - iriđi chế
    thành một thước mét có mặt cắt ngang hình chữ X làm thước mét tiêu chuẩn
    quốc tế. Thước này được cất giữ cẩn thận tại Cục Đo lường quốc tế Pari.
    Thước mét tiêu chuẩn phục chế của các nước phải được đưa định kì đến Pari
    để so mẫu với thước mét tiêu chuẩn quốc tế đó.
    Nhưng các nhà khoa học chưa cảm thấy hài lòng đối với thước mét quý
    giá ấy. Một là, nó quá mềm yếu, muốn duy trì được độ chính xác, bắt buộc
    phải đặt nó trong phòng có nhiệt độ ổn định suốt cả năm. Hai là, hợp kim
    platin - iriđi vẫn không tránh được hiện tượng lạnh co, nóng giãn. Ba là,
    thước chế tạo bằng kim loại, thời gian dài lâu thế nào cũng bị ăn mòn, hư
    hại.

    Các nhà khoa học cận đại đã nghiên cứu bản chất của ánh sáng, phát hiện
    nó lan truyền dưới hình thức của sóng. Ánh sáng màu sắc khác nhau có bước
    sóng khác nhau, đồng thời phát hiện nó lan truyền dưới dạng bước sóng hết
    sức ổn định. Dùng bước sóng của ánh sáng làm tiêu chuẩn độ dài có tính ưu
    việt không gì sánh bằng. Vì vậy, tháng 10 năm 1960, Hội nghị đo lường
    quốc tế khoá 11 đã chính thức quyết định: Bước tiêu chuẩn của mét bằng
    1650763,73 lần bước sóng ánh sáng màu vàng cam của kpypton - 86 phát ra
    trong chân không.
    Sau khi phát minh ra laze , do tính đơn sắc của laze tốt, độ chói cao, khi
    dùng bước sóng của laze làm chuẩn gốc, độ chính xác so với dùng đèn của
    chất đồng vị kpypton - 86 được nâng cao tới 1.000.000 lần. Vì vậy, laze
    nhanh chóng trở thành "thước ánh sáng" lí tưởng của các nhà khoa học.
    Tuy đã có thước ánh sáng của laze nhưng các nhà khoa học vẫn đang tiếp
    tục tìm kiếm cái thước chính xác hơn. Ngày 20 tháng 10 năm 1983, trong
    Hội nghị đo lường quốc tế khoá 17 họp tại Pari, các bộ môn đầy quyền lực
    hữu quan lại tiến một bước trong việc xác định độ dài tiêu chuẩn của mét, cụ
    thể bằng độ dài của đoạn đường mà ánh sáng lan truyền trong chân không
    trong thời gian 1/299792458 giây. Vì rằng tốc độ truyền của ánh sáng trong
    chân không là không đổi, nên cái "thước ánh sáng" mới này đặc biệt chính
    xác.
    Từ khóa : Thước mét tiêu chuẩn; Kinh tuyến; Kpypton - 86; Laze .

    3. Vì sao các đường ô tô lên núi đều quanh
    co uốn khúc?
    Ôtô muốn từ chân núi chạy lên, không thể chạy thẳng đứng được, bao giờ
    cũng theo đường vòng vèo quanh núi mà chạy dần lên. Khi làm như vậy,
    chẳng những xe chạy được tương đối an toàn mà còn đỡ tốn sức nữa.
    Chúng ta hầu như đều nhận thấy: đi bộ hoặc cưỡi xe đạp từ chỗ thấp lên
    chỗ cao vất vả hơn so với đi trên đất bằng, leo lên sườn dốc đứng sẽ mất sức
    nhiều hơn so với sườn dốc thoai thoải. Vì vậy, khi lên sườn dốc, bao giờ
    người ta cũng tìm cách làm giảm bớt độ dốc của sườn núi đi một ít. Đối với
    sườn núi có độ cao nhất định thì mặt nghiêng của sườn núi càng dài, độ dốc
    càng bé. Vì vậy, con người hay dùng cách kéo dài mặt nghiêng để làm giảm
    độ dốc, đạt được mục đích ít tốn sức.
    Ví dụ như khi đẩy xe chở hàng nặng lên dốc, nếu đẩy thẳng tuột lên,
    người sẽ cảm thấy rất mất sức. Những người có kinh nghiệm thường đẩy lên
    theo hình chữ S. Như vậy, tuy có đi dài thêm một ít đường, nhưng có thể bớt
    tốn nhiều sức lực. Lên dốc theo hình chữ S tức là làm cho mặt nghiêng dài
    ra, giảm thấp độ dốc.

    Còn một ví dụ nữa, ở hai đầu của một cái cầu to và cao đều có đường dẫn
    lên cầu khá dài, có khi còn xây đường dẫn thành hình xoắn ốc. Đó đều nhằm
    làm giảm độ dốc của cầu mà phải kéo dài mặt cầu ra.
    Từ khoá: Mặt nghiêng; Đỡ mất sức; Đường dẫn lên cầu

    4. Vì sao cái kim dễ xuyên vào vật khác?
    Dùng đầu cái kim xuyên vào tờ giấy, cái kim xuyên thủng một lỗ nhỏ trên
    giấy rất dễ dàng. Nếu quay ngược kim lại, lấy cái đầu cùn hơi tròn tròn
    xuyên vào giấy thì không mấy dễ dàng xuyên thủng được giấy. Đó là vì áp
    suất đặt lên mặt giấy có độ lớn khác nhau. Áp suất là độ lớn của áp lực đặt
    lên trên một đơn vị diện tích.
    Khi chúng ta lần lượt dùng đầu nhọn và đầu cùn của kim xuyên vào tờ
    giấy, tuy lực bỏ ra bằng nhau, nhưng áp suất đặt lên tờ giấy lại khác nhau.
    Khi xuyên bằng đầu nhọn, lực bỏ ra đều tập trung vào đầu kim nhọn; còn khi
    dùng đầu cùn, lực bỏ ra lại bị phân tán trên diện tích lớn hơn so với đầu
    nhọn. Theo đó, áp suất của đầu kim nhọn đặt lên tờ giấy sẽ lớn hơn áp suất
    của đầu kim cùn. Vì vậy, đầu kim nhọn của kim dễ xuyên thủng giấy hơn
    đầu kim cùn.
    Trong đời sống, có rất nhiều ví dụ về làm tăng áp suất, như dùng kim may
    quần áo, dùng ống tiêm để tiêm thuốc, đóng đinh lên tường, dùng dao sắt để
    cắt đồ vật v.v. đều là tập trung lực trên một diện tích tương đối nhỏ, nhằm
    đạt được mục đích làm tăng áp suất.
    Nhưng áp suất quá lớn cũng thường gây nên rắc rối.
    Khi bạn đi bộ trên đất phủ tuyết, hai chân hay bị lún xuống. Đó là vì áp
    suất của cơ thể đối với đất phủ tuyết quá lớn. Nếu bạn đi giày trượt tuyết thì
    chẳng những không bị lún, mà còn có thể trượt trên tuyết như bay nữa. Hoá
    ra là tấm trượt tuyết vừa rộng vừa lớn, làm tăng diện tích hơn 20 lần so với
    chân bạn, chúng làm cho áp lực của thân thể bạn đặt lên đất phủ tuyết bị
    phân tán ra.
    Hiểu rõ điều này, bạn sẽ nhận thức được ngay vì sao bánh xe của xe tăng
    và máy kéo phải có bánh xích vừa dài vừa rộng quàng lên hay vì sao phải đặt
    đường ray tàu hoả lên trên những thanh tà vẹt.
    Từ khoá: Áp lực; Áp suất.

    5. Vì sao dùng ống hút có thể hút được nước
    giải khát ?
    Khi bạn dùng ống hút để uống nước giải khát, bạn có thoáng đặt câu hỏi:

    vì sao miệng vừa hút một cái thì nước liền theo ống hút chạy vào mồm
    chúng ta ngay? Điều đó chủ yếu là nhờ vào sự giúp sức của áp suất khí
    quyển.
    Chúng ta biết rằng, xung quanh Trái Đất có một lớp không khí khá dày
    bao bọc, gọi là khí quyển. Ở đâu có không khí thì ở đó phải chịu tác động
    của áp suất khí quyển. Tại bề mặt của Trái Đất, áp suất khí quyển trên diện
    tích mỗi cm2 vào khoảng 10 niutơn.
    Cắm ống hút vào trong cốc nước, bên trong và bên ngoài của ống hút đều
    tiếp xúc với không khí, đều chịu tác động của áp suất khí quyển, và áp suất
    khí quyển bên trong, bên ngoài bằng nhau. Khi ấy nước ở trong và ngoài ống
    đều duy trì trên cùng một mặt phẳng ngang. Chúng ta ngậm ống hút và hút
    một cái, không khí trong ống bị chúng ta hút đi, trong ống không còn không
    khí, áp suất tác động lên mặt nước bên trong ống hút nhỏ hơn áp suất tác
    động lên mặt nước bên ngoài ống hút. Thế là áp suất khí quyển liền ép đồ
    uống chui vào ống hút, làm cho mặt nước trong ống hút dâng cao lên. Chúng
    ta tiếp tục hút như thế, đồ uống sẽ ùn ùn tuôn vào miệng không dứt.
    Từ khoá: Ống hút; Áp suất khí quyển.

    6. Vì sao bút máy có thể tự chảy mực ra?


    Khi bạn dùng bút máy viết chữ trên giấy, lập tức xuất hiện nét chữ bằng
    mực. Hẳn bạn đã từng băn khoăn: vì sao khi bạn viết, mực trong bút máy lại
    liên tục chảy ra; còn khi bạn ngừng viết, mực lại không chảy ra nữa? Chúng
    ta hãy làm một thí nghiệm: Cắm một ống thuỷ tinh nhỏ vào trong cái cốc
    thuỷ tinh có đựng nước, nước liền nhanh chóng dâng cao lên bên trong ống,

    khi đó ta thấy mặt nước trong ống còn cao hơn mặt nước trong cốc thuỷ tinh.
    Hiện tượng đó gọi là hiện tượng mao dẫn. Bút máy được thiết kế ra chính là
    ứng dụng nguyên lí mao dẫn này. Nó dựa vào một loạt các rãnh mao dẫn trên
    thân ngòi bút và khe hở nhỏ ở đầu ngòi bút mà vận chuyển mực từ trong ruột
    bút đến đầu ngòi bút. Khi viết chữ, đầu ngòi bút vừa chạm vào tờ giấy, mực
    liền dính lên giấy, lưu lại trên đó những nét chữ rõ rệt.
    Khi ngừng viết, vì sao mực trong bút máy không chảy ra nhỉ? Chúng ta
    hãy làm thêm một thí nghiệm nhỏ nữa để làm rõ vấn đề này.


    Lấy một tấm bìa cứng đậy lên miệng cốc thuỷ tinh đựng đầy nước, ép chặt
    tấm bìa và nhanh chóng lật ngược cả cốc nước và bìa lộn đầu xuống phía
    dưới, sau đó nhẹ nhàng bỏ tay ép tấm bìa ra. Khi ấy tấm bìa cứng bị hút chặt
    vào miệng cốc và đỡ lấy lượng nước đầy trong cốc. Sức mạnh nào đã đỡ
    được tấm bìa mà nhờ đó nước trong cốc thuỷ tinh không chảy ra ngoài? Đó
    là tác động của áp suất khí quyển. Chính là áp suất khí quyển đã đỡ được
    tấm bìa và nước trong cốc. Lúc không viết chữ, mực trong bút máy không
    chảy ra ngoài cũng bởi nguyên nhân đó, vì áp suất khí quyển bên ngoài ruột
    bút lớn hơn áp suất bên trong, cho nên có thể giữ mực lại.
    Từ khoá: Bút máy; Hiện tượng mao dẫn; Áp suất khí quyển.

    7. Vì sao tháp nước phải xây thật cao?
    Vặn vòi ra, nước máy tuôn ra rào rào. Nước máy từ đâu đến vậy nhỉ?
    Chắc chắn là bạn sẽ nghĩ tới ống nước chôn sâu dưới đất. Nhưng muốn truy
    tìm nguồn nước thì phải lần theo ống nước đến tận nhà máy nước xem sao.
    Thì ra, những ống nước chôn ở dưới đất ấy đều nối liền làm một với tháp
    nước rất cao trong nhà máy nước.
    Vậy thì, các tháp nước có tác dụng gì? Chúng ta có thể đưa ra một ví dụ
    nhỏ. Khi tưới hoa, nếu bạn hơi nghiêng bầu nước một chút, dòng nước chảy
    ra vừa mảnh lại vừa chậm; nếu nghiêng bầu nước rạp xuống nhiều hơn nữa
    thì dòng nước phun ra vừa to vừa xiết. Do nguyên nhân gì nhỉ? Hoá ra là
    mực nước càng cao thì áp suất sẽ càng tăng. Làm cho bầu nước nghiêng đi
    tức là làm cho độ cao mực nước đối với vòi phun lớn lên, áp suất của nước
    cũng theo đó mà lớn lên, dòng nước phun ra cũng vừa to vừa xiết.
    Đối với tháp nước cao, nếu độ cao của một tháp nước là 10 m, độ cao của
    một tháp nước khác chỉ có 5 m thì áp suất dòng nước ở đáy của cái tháp cao
    10 m lớn hơn áp suất dòng nước ở đáy tháp 5 m khoảng 49 kilôpascan (kPa).
    Nếu kích thước của miệng lỗ chảy nước ở hai đáy bằng nhau, khi mở chúng
    ra đồng thời với nhau, nước chảy ở miệng có áp suất lớn tất nhiên mạnh hơn
    ở áp suất nhỏ. Vì nước máy phải cung ứng cho các hộ tiêu dùng ở những địa
    thế cao thấp khác nhau nên nếu áp suất không đủ thì hộ tiêu dùng ở địa thế
    cao sẽ không lấy được nước. Vì vậy, tháp nước nói chung phải xây thật cao.
    Ở những thành phố lớn và thành phố vừa hiện đại hoá, do phạm vi của
    mạng lưới cấp nước rộng, sức cản của đường ống lớn, chỉ dựa vào tháp nước
    để sinh ra áp lực là không đủ, còn phải nhờ vào rất nhiều máy bơm tăng áp
    lực nước.
    Từ khoá: Tháp nước; Áp suất.

    8. Vì sao con lật đật không bị đổ nhào?
    Mọi người đều có thể nhận thấy hiện tượng: viên gạch nằm ngang rất ổn
    định, dựng nó đứng thẳng lên thì rất dễ bị đổ nhào; cái chai đựng nửa chai
    nước đặt đứng trên mặt đất bằng phẳng thì rất ổn định, chai không hoặc chai
    đựng đầy nước thì tương đối dễ bị lật nhào. Từ hai sự việc kể trên, có thể
    thấy, muốn cho một vật thể ổn định, không dễ bị lật đổ thì cần phải thoả mãn
    hai điều kiện: một là diện tích đáy của nó phải lớn; hai là sức nặng của nó

    phải cố tập trung vào phần dưới, nói cách khác là trọng tâm của nó phải thấp.
    Trọng tâm của vật thể có thể xem là điểm tác động hợp lực của trọng lực đặt
    lên đấy.
    Đối với bất kì vật thể nào, nếu diện tích đáy của nó càng lớn, trọng tâm
    càng thấp thì nó càng ổn định, càng khó bị đổ nhào. Ví dụ: các kiến trúc hình
    tháp bao giờ cũng là bên dưới phình, bên trên nhọn, khi xếp hàng hoá vận
    chuyển bao giờ cũng đặt vật nặng xuống dưới, vật nhẹ lên trên.
    Nắm được các kiến thức đó rồi, chúng ta hãy quay lại xem xét con lật đật.
    Toàn bộ thân mình con lật đật đều rất nhẹ, song ở đáy của nó có một cục chì
    hoặc cục sắt hơi nặng, vì vậy trọng tâm của nó rất. Mặt khác, mặt đáy của
    con lật đật lớn mà tròn nhẵn, dễ đung đưa. Khi con lật đật nghiêng lệch về
    một phía, do điểm tựa (điểm tiếp xúc của nó và mặt bàn) bị chuyển động,
    trọng tâm và điểm tựa không còn ở cùng trên đường thẳng góc nữa. Lúc ấy,
    dưới tác động của trọng lực, con lật đật sẽ đung đưa quanh điểm tựa cho đến
    khi khôi phục lại vị trí bình thường của nó. Mức độ nghiêng lệch của con lật
    đật càng lớn, khoảng cách ngang giữa trọng tâm và điểm tựa lại càng lớn,
    hiệu quả đung đưa do trọng lực sinh ra cũng càng lớn, xu thế khiến nó phục
    hồi về vị trí cũ cũng càng rõ rệt. Vì vậy, con lật đật có xô cũng không thể
    nhào đổ được.
    Hiện tượng những vật thể vốn đứng yên, như kiểu con lật đật, sau khi bị
    những nhiễu động nhỏ mà có thể tự động phục hồi lại trạng thái thăng bằng ở
    vị trí cũ, trong vật lí người ta gọi đó là sự thăng bằng ổn định (cân bằng bền).
    Còn những vật thể hình cầu như quả bóng bàn, bóng đá, bóng chuyền, v.v.
    sau khi chịu ngoại lực tác động, có thể tiếp tục giữ thăng bằng ở bất kì vị trí
    nào thì loại trạng thái đó gọi là thăng bằng phiếm định (cân bằng phiếm
    định). Vật thể ở trạng thái thăng bằng phiếm định thì trọng tâm và điểm tựa
    của nó luôn luôn nằm trên cùng một đường thẳng và độ cao của trọng tâm
    không bao giờ biến đổi. Cây bút đặt nằm ngang trên bàn là một loại thăng
    bằng phiếm định, bất kể nó lăn tới đâu, độ cao của trọng tâm vẫn không biến
    đổi.
    Từ khoá: Con lật đật; Trọng tâm; Thăng bằng ổn định; Thăng bằng
    phiếm định.

    9. Vì sao không nhún chân thì không nhảy

    được?
    Nếu có người hỏi bạn: Không nhún chân có thể nhảy lên được không? Có
    lẽ bạn không trả lời ngay được. Vậy thì hãy thử làm một cái xem sao nào.
    Bạn sẽ nhận thấy rằng nếu không nhún chân thì không sao nhảy lên được,
    gân cốt hoàn toàn như không có chỗ triển khai. Đó là điều gì vậy?
    Hoá ra là trong trường hợp tổng quát, chuyển động của vật thể đều phải
    tuân thủ các quy luật khách quan nhất định, đó là định luật Newton. Định
    luật thứ ba của Newton cho chúng ta biết rằng: Khi vật thể A tác động một
    lực lên vật thể B, tất nhiên vật thể B cũng đồng thời tác động lên vật thể A
    một phản lực, độ lớn của lực và phản lực bằng nhau, ngược chiều nhau và ở
    cùng trên một đường thẳng. Ví dụ như khi vỗ tay, bàn tay phải tác động lên
    bàn tay trái một lực, bàn tay trái đồng thời cũng tác động lại lên bàn tay phải
    một lực; để quyển sách lên bàn, sách có lực ép xuống bàn thì đồng thời mặt
    bàn cũng sinh ra một lực đỡ đối với quyển sách. Chúng đều là lực và phản
    lực.


    Chúng ta muốn từ mặt đất nhảy một cái, thì phải làm cho mặt đất tác dụng
    một lực lên chúng ta. Nhưng làm thế nào mới có thể khiến cho mặt đất tác
    động lên chúng ta một lực nhỉ? Điều đó đòi hỏi chúng ta phải tác động lên
    mặt đất một lực trước đã. Chúng ta nhún chân, thấp người xuống rồi mới
    nhảy lên, tức là điều chỉnh cơ bắp của chân, làm cơ bắp co lại tác động một
    lực lên mặt đất. Như vậy, mặt đất sẽ đồng thời sinh ra một phản lực hướng
    lên trên đối với chúng ta. Nhờ vào phản lực đó, chúng ta nhảy lên được. Cơ
    bắp của chân tác động lên mặt đất một lực càng lớn, phản lực của mặt đất đối

    với chúng ta cũng càng lớn, vì vậy, nhảy được càng cao. Nếu không nhún
    chân, cơ bắp của chân sẽ không có cách gì sinh ra lực đối với mặt đất thì mặt
    đất cũng sẽ không sinh ra phản lực đối với chúng ta, cho nên không nhảy lên
    được.
    Khi một chiếc thuyền muốn rời bến, người trên thuyền dùng sào tre chống
    vào bờ, lực chống càng lớn, thuyền rời bến càng xa. Đó cũng là quy luật của
    lực và phản lực.
    Từ khoá: Định luật thứ ba của Newton; Lực; Phản lực.

    10. Vì sao khi đi trên dây thép phải đung đưa
    hai cánh tay?
    Đi trên dây thép là một trong những tiết mục xiếc có từ rất lâu đời. Người
    đã xem qua tiết mục này đều tấm tắc khen tài nghệ điêu luyện của diễn viên.
    Diễn viên xiếc bước trên dây thép mảnh, có thể nói là chẳng có "đất đặt
    chân", nhưng họ lại có thể linh hoạt nhẹ nhàng biểu diễn các loại động tác
    nguy hiểm và đẹp mắt trên đó như trên đất bằng. Vậy vì sao diễn viên xiếc đi
    trên dây lại không bị rơi xuống?
    Chúng ta biết rằng, bất kể là vật thể nào, nếu muốn giữ được thăng bằng
    thì đường tác động trọng lực (đường thẳng đứng đi qua trọng tâm) của vật
    thể phải đi qua mặt đỡ (mặt tiếp xúc của vật thể với vật đỡ nó). Nếu đường
    tác động trọng lực không đi qua mặt đỡ, vật thể sẽ bị lộn nhào xuống.
    Dựa vào điều kiện thăng bằng vật thể, vốn đòi hỏi diễn viên biểu diễn đi
    trên dây luôn luôn giữ cho đường tác động trọng lực của thân thể mình đi
    qua mặt đỡ - dây thép. Do dây thép rất mảnh, mặt đỡ đối với người cực nhỏ,
    người bình thường rất khó giữ cho đường tác động trọng lực của thân thể
    vừa khéo rơi đúng trên dây thép, lúc nào cũng có nguy cơ đổ nhào xuống.
    Khi diễn viên xiếc đi trên dây, họ dang rộng hai cánh tay, đung đưa sang
    phải sang trái, là để điều tiết trọng tâm của thân thể, điều chỉnh đường tác
    động trọng lực của thân thể lên dây thép, làm cho thân thể khôi phục lại
    thăng bằng. Thường ngày, chúng ta vẫn thường thấy: Khi thân mình loạng
    choạng suýt ngã, chúng ta cũng sẽ lập tức đung đưa hai cánh tay để giữ cho
    nó ổn định trở lại. Lúc ấy, chúng ta cũng nhờ vào sự đung đưa hai cánh tay
    để điều chỉnh trọng tâm của thân thể.

    Có diễn viên xiếc khi đi trên dây, trong tay còn cầm một sào tre khá dài,
    hoặc những thứ khác như cái ô vải hoa, ba toong, quạt màu v.v. Bạn chớ cho
    rằng những thứ đó là gánh nặng thừa thãi của người biểu diễn. Hoàn toàn
    ngược lại. Đó đều là những công cụ phụ trợ giúp cho thân thể diễn viên được
    thăng bằng. Chúng có tác dụng làm cho cánh tay của diễn viên như thêm dài
    ra.
    Từ khoá: Mặt đỡ; Trọng tâm; Thăng bằng.

    11. Vì sao trên núi cao nấu cơm không chín?
    Những người thăm dò địa chất và vận động viên leo núi hoạt động trên núi
    cao thường hay gặp chuyện lúng túng như thế này: nước trong nồi cơm sôi
    sùng sục đã lâu, hơi nước bốc nghi ngút, song cơm trong nồi vẫn sống. Điều
    đó rốt cuộc là gì vậy?


    Hóa ra là, nước cũng hệt như các chất khác, điểm sôi của nó có quan hệ
    với áp suất. Áp suất lớn, điểm sôi cao; áp suất nhỏ, điểm sôi thấp. Khi độ cao
    ở gần mực nước biển, áp suất khí quyển vào khoảng 101,3 kilopascan (kPa).
    Điểm sôi của nước ở độ cao đó là 100°C. Nhưng lên núi cao, theo đà tăng
    của độ cao, áp suất khí quyển giảm dần, điểm sôi của nước cũng bắt đầu hạ
    thấp. Có nghĩa là trên núi cao, không phải tới 100°C nước mới bắt đầu sôi.
    Theo đo đạc, hễ độ cao tăng 1000 m, điểm sôi của nước hạ thấp khoảng 3°C.
    Ở độ cao 5000 m trên mực nước biển, dù rằng lửa cháy thật bốc, nước
    trong nồi cơm sôi rồi, nhiệt độ nước vẫn không vượt quá 85°C. Còn trên

    đỉnh nóc nhà thế giới - đỉnh núi Evơret (với độ cao khoảng 8848 m), nước
    mới ở nhiệt độ xấp xỉ 73,5°C cũng đã đạt tới điểm sôi rồi. Nhiệt độ như thế
    tất nhiên không thể nấu gạo sống thành cơm chín được.
    Nếu vậy, chẳng nhẽ ở trên núi cao đành phải ăn cơm sống hay sao? Cố
    nhiên không phải vậy. Con người đã nghĩ ra một loại nồi áp suất thích hợp
    cho việc đun nước nấu cơm cho trường hợp núi cao. Khi nấu bằng nồi áp
    suất, hơi nước không có cách gì bay từ trong nồi ra, càng tích tụ càng nhiều,
    nên đã tăng áp suất trong nồi lên. Khi áp suất đạt tới 101,3 kPa, điểm sôi của
    nước đương nhiên cũng đạt tới 100°C, gạo sống cũng có thể nấu thành cơm
    chín được.
    Hiện nay, các gia đình cũng dùng nồi áp suất. Nói chung áp suất của loại
    nồi đó được khống chế vào khoảng 223 kPa (cỡ 2,2 atm), nhiệt độ cao nhất
    trong nồi có thể tới 123°C. Nấu cơm và thức ăn bằng nồi áp suất vừa tiết
    kiệm chất đốt, vừa rút bớt thời gian và mang lại nhiều thuận tiện cho cuộc
    sống.
    Từ khoá: Nồi áp suất; Điểm sôi; Áp suất.

    12. Con người lặn xuống biển sâu, thân mình
    có bị ép bẹp không?
    Các vật thể chìm trong nước đều phải chịu áp suất của nước. Áp suất này
    tỉ lệ thuận với độ sâu của nước. Hễ độ sâu tăng lên 10 m, áp suất sẽ tăng 98
    kPa. Cũng có nghĩa là, trên diện tích 1 cm2, áp lực tăng lên 9,8 niutơn (N).
    Làm một con tính sơ lược: thân mình của một người trưởng thành có diện
    tích khoảng 15000 cm2. Nếu người ấy lặn xuống nước 30 m, áp lực đè lên
    thân mình anh ta sẽ tăng đến 441.000 N. Dưới một áp lực lớn như thế, liệu
    thân mình của người thợ lặn có bị ép bẹp không?
    Không hề. Vì trong tổ chức thân thể của người trưởng thành có trên 60%
    là nước và nước thì không thể ép bẹp được. Đồng thời trong quá trình người
    thợ lặn từ từ lặn xuống nước, thông qua cách hít không khí trong bình khí
    nén mà không ngừng điều tiết áp suất chất khí trong cơ thể, làm cho nó triệt
    tiêu với áp suất nước ở dưới sâu đè lên người anh ta.
    Áp lực nước tuy không ép bẹp được người thợ lặn, song độ sâu lặn được
    của con người cũng có giới hạn. Một mặt, vì theo đà độ sâu lặn tăng lên, áp
    suất nước càng lúc càng lớn, ngộ nhỡ nó vượt quá áp suất của bình không

    khí nén mà người thợ lặn mang theo thì anh ta khó bề điều tiết sự cân bằng
    áp suất trong và ngoài cơ thể và duy trì sự hô hấp. Mặt khác, vì làm việc
    trong môi trường áp suất cao, không khí mà người thợ lặn thở là không khí
    áp suất cao, khí nitơ trong đó sẽ hoà tan vào trong máu, vào các tổ chức và
    vào trong chất béo. Lượng hoà tan này tăng lên theo sự tăng cao của áp suất
    chất khí và sự kéo dài của thời gian lặn. Nếu người thợ lặn nổi lên nhanh
    quá, áp suất nước giảm xuống, khí nitơ trong máu thường là giãn nở nhanh
    chóng, trở thành bọt khí, bịt kín các huyết quản hoặc đè chặt các tổ chức
    trong cơ thể, gây nên bệnh giảm áp. Hiện tượng khí nitơ trong cơ thể nở ra
    nhanh chóng giống như khí vừa mở nắp chai nước có ga vậy. Vì vậy, người
    thợ lặn làm việc dưới biển sâu cần phải chọn lựa phương án đúng đắn, và
    dựa vào các nhân tố như thể lực của bản thân và nhiệt độ nước, v.v. mà điều
    chỉnh thời gian giảm áp, nổi người lên theo một tốc độ nhất định, để bọt khí
    trong cơ thể có thể chui ra ngoài một cách thuận lợi, thì sẽ không mắc bệnh
    giảm áp.
    Hiện nay, người ta áp dụng biện pháp hít chất khí hỗn hợp và tăng áp đối
    với chất khí theo độ sâu lặn, nên người thợ lặn đã có thể hoạt động dưới biển
    trong vòng độ sâu tới 300 m.
    Từ khoá: Áp suất; Lặn; Không khí nén; Bệnh giảm áp; Khí nitơ.

    13. Vì sao con mắt của kĩ sư có thể "nhìn
    thấy" ứng suất bên trong vật liệu?
    Các nhà thơ vẫn gọi con mắt là cửa sổ của tâm hồn. Còn đối với những
    người làm khoa học kĩ thuật, nó là lợi khí để dòm ngó bí mật của thiên
    nhiên.
    Chẳng phải thế sao? Từ con đập chắn nước có thể cắt đứt đỉnh lũ đang
    gầm rú lao xuống tới bệ phóng tên lửa đồ sộ có thể phát ra sức chấn động
    ngang với sấm sét... đều được người kĩ sư dùng con mắt nghề nghiệp đặc
    biệt của mình, nhìn ra ứng suất bên trong công trình để phân phối lượng vật
    liệu thích hợp khi chế tạo.
    Vậy thì, ứng suất bên trong vật thể là gì? Căn cứ vào định luật thứ ba của
    Newton và nguyên lí cân bằng lực, giá trị của nội lực của vật kết cấu đương
    nhiên bằng với ngoại lực đặt lên vật đó. Trên cùng một cấu kiện, nếu chia
    tổng của các nội lực cho mặt cắt của cấu kiện, nội lực trên một đơn vị diện

    tích là ứng suất bên trong của vật liệu.
    Ứng suất là thứ nhìn không thấy, sờ không được. Vậy vì sao con mắt của
    kĩ sư có thể "nhìn thấy" ứng suất bên trong vật liệu mà thiết kế kích thước
    mặt cắt của cấu kiện công trình một cách hợp lí nhỉ?
    Hoá ra là, biến dạng là hình ảnh của lực. Ví dụ như khi bạn dùng hai tay
    kéo sợi dây cao su, sợi dây bị kéo dài ra cho thấy lực mà bạ...
     
    Gửi ý kiến

    TƯ THẾ NGỒI VIẾT ĐÚNG - |KIẾN THỨC TIỂU HỌC|

    Không có gì có thể thay thế văn hóa đọc

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VIẾT XUÂN !